Chào các bạn , sau đây mình sẽ tổng hợp kiến thức về tour Củ Chi- Tây Ninh .
Trong bài có các điểm như :
+ Khu
Di Tích Lịch Sử - Văn Hóa Núi Bà Đen.
+Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
+ Địa đạo Củ Chi.
+ Đền bến Dược.
Rời khỏi khu công nghiệp
Tân Bình không xa thì xe chúng tôi lại qua một
cây cầu được xem là ranh giới giữa quận Tân Bình và quận 12 đó là cầu
Tham Lương. Cầu còn có tên gọi là cầu Tham Cấn bắt qua kênh Tham Lương trước thời
Nguyễn. Tham Lương là con kênh đào ngắn hẹp. Đến năm 1771 kênh được đào rộng ra
10m sâu 3m dài 8Km. Năm 1782 diễn ra trận đánh giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Anh.
Đến năm 1945 Pháp cho xây dựng nhiều hệ thống đồn bót để kiểm soát. Tháng
12-1946 xảy ra trận đánh lớn giữa Việt Minh và Pháp diễn ra trong suốt 3 ngày
và nơi đây có 1 nhạc sĩ đã sáng tác ra bài hát “Mặt trận Tham Lương”.
Rời cầu Tham Lương tiếp tục theo đường
Trường Chinh chúng tôi vào địa phận quận12, để đến với ngã tư An Sương. Đây là
nơi giao nhau của xa lộ Đại Hàn với phần cuối của đường Trường Chinh và phần đầu
của quốc lộ22A. Trên đường Trường Chinh nhìn bên tay phải là đường Nguyễn Văn
Quá, thẳng đường Nguyễn Văn Quá là ngã tư Chợ Cầu, chạy lên khoảng một chút
nhìn tay trái là ngã ba Phan Công Hớn hay còn được gọi là Phan Văn Hớn. Và bây
giờ là 5h30’ xe chúng tôi có mặt tại ngã tư An Sương, km 00, chúng tôi vừa chạy
qua giáo sứ Lạc Quang. Từ km 00, quẹo phải là Xa Lộ Đại Hàn. Xa Lộ Đại Hàn có
tên gọi này là vào năm 1963 Mỹ đã bỏ tiền ra xây dựng nhưng giao công trình cho
Hàn Quốc xây dựng và dân ta gọi là xa lộ Đại Hàn mang tên nước đã thi công con
đường này. Xa lộ này dài 28km, mặt cán nhựa rộng 7m, bắt đầu từ ngã 3 An Lạc
(huyện Bình Chánh) và kết thúc tại ngã ba trạm Hai (Thủ Đức), là đi các tỉnh miền
Đông. Quẹo trái từ km 00 là hướng ngã ba An Lạc đi các tỉnh miền Tây.
Khi xe chúng tôi chạy
qua trung tâm văn hóa quận 12 là bước qua ranh giới giữa quận 12 và huyện Hóc
Môn. Thẳng vào bên trái đến ngã ba Nguyễn Thị Sóc. Là đền và mộ của Phan Công Hớn.
Ông lãnh tụ cuộc khởi nghĩa chống Pháp có tên Mười Tám Thôn Vườn Trầu vào cuối
năm 1884 tại Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Việt Nam. Từ đầu đường
Nguyễn Thị Sóc đến cuối đường là ngã ba Củ Cải nơi có nghĩa trang liệt sĩ 18
Thôn Vườn Trầu. Ngã ba Củ Cải nổi tiếng với xóm đạo mang tên Tha La, và tên này
đã đi vào âm nhạc với bài hát “Tha La xóm đạo” dù bạn chưa tới đây nhưng đã từng
có lần nghe bài hát này”đây Tha La, đây xóm đạo tiêu điều …. đây” và bài hát
này đã nói lên việc chiến tranh đã làm cho xóm làng hoang tàn … rơi vào cảnh
đau thương mất mát. Xe chúng ta vẫn tiếp tục chạy thẳng và vừa qua ngã ba Củ Cải
là đến ngã tư Giếng Nước. Từ đây ta rẽ trái vào là đến 18 thôn Vườn Trầu tại đó
vào thời Pháp tại địa phương này cuộc khỏi nghĩa cuả Phan Công Hớn (quê tại Bà
Điểm) và Nguyễn Văn Hóa (quê Long An)lãnh đạo giết chết tên đô đốc Trần Tử Ca.
Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại Nguyễn Văn Hoá bị chém đầu tại Hóc Môn và để
đàn áp cuộc khởi nghiã này Pháp đã truy lùng những người khởi nghĩa,trong lúc
truy lùng đã tìm ra Mười tám làng còn gọi là “Thập Bát Phù viên” và nơi đây trồng
nhiều trầu.
Trầu là loại
cây nông sản quan trọng
của vùng xưa kia những người dân
trong vùng được tụ tập
lại rất đông và gánh cách gánh trầu đem bán tại chợ Bến
Nghé vào chợ Sài Gòn.Họ
tụ tập đông như thế để tránh thú dữ vì vùng này nổi
tiếng là có rất nhiều
thú dữ mà đặc biệt là cọp. Người ta thường nói “dữ như cọp vườn trầu”. nên gọi
là 18 thôn vườn trầu.Và bây giờ là 5h40 xe chúng tôi đã đến ngã tư Hóc Môn, từ
đây rẽ trái vào là ngã ba Giồng. Hóc Môn còn là nơi mở
đầu cho cuộc khởi nghĩa
Nam Kì nổ ra 1940. giờ đây Hóc Môn vẫn còn những di tích ghi lại những giai đoạn
lịch sử anh hùng của nhân dân Hóc Môn cùng nhândân Nam Bộ kiên cường chống thực
dân pháp và đế quốc Mỹ để giành lại độc lập cho nhân dân như “Bia căm thù” ở Cầu
Xáng, khu di tích ở khởi nghĩa Nam Kỳ ởNgã Ba Giồng. Trước mặt ta là cầu An Hạ
là ranh giới giữa huyện Củ Chi và huyện Hóc Môn . Ta vừa chạy ngang qua bánh
canh trảng bàng Phương Dung ở km 09. Qua cầu An Hạ ta đến với huyện Củ Chi
là nhắc
đến một vùng đất
anh hùng với những con người
anh hùng đã làm nên những trang lịch sử
chói lọi trong nhữngngày kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Những người dân
bình dị trong cuộcsống cần cù trong lao động nhưng lại vô cùng sáng tạo trong
chiến đấu. Sự sángtạo ấy được thể hiện cụ thể qua mô hình địa đạo mà các nhà kiến
trúc đánh giá làđộc nhất vô nhị trong chiến đấu. Vùng đất được xem là “Ngọn cờ đầu
của chiếntranh du kích và được mệnh danh là “Đất thép thành đồng” đã có 6 xã được
tuyêndanh anh hùng. Trên đầu ta là đường dây cao thế Bắc Nam 500Kv. Tải điện từ
nhà máy thủy điện Hoà Bình vào đây và truyền tải cho các tỉnh lận cận khác. Xe
vẫn tiếp tục chạy thẳng trên quốc lộ 22A. Và đến ngã ba Hương Lộ 2.
Nếu chạy theo hướng ngã ba Hương Lộ 2
thì sẽ đến tỉnh lộ 8, nơi căn cứ Đồng Dù xưa. Tay phải chúng tôi là Củ Chi “Đất
thép thành đồng” . Nơi đây đã
có 16 anh
hùng lực lượng
vũ trang và
778 dũng sĩ. Nằm sát cạnh Sài Gòn, trung tâm đầu não của
chính quyền Mỹ nguỵ nhưng Củ Chi đã trở thành căn cứ địa vững chắc, là chỗ đứng
chân an toàn cho các đồng chí lãnh đạo cũng như các lực lượng vũ trang kháng
chiến. Với thành tích kiên cường đứng vững trước sự đánh phá của kẻ thù và có
những đóng góp to lớn vào cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Ngày nay đến với Củ Chi ta có thể thấy
vùng đất này được phủ đầy bởi màu xanh của đồng ruộng, màu xanh của những vườn cây ăn trái mà màu
xanh của nhữngvườn cao su bạc ngàn, và kế bên là giáo xứ Củ Chi . Giờ là
6h, xe chúng tôi đang chạy dưới chân cầu vượt Củ Chi. Đi thẳng hướng tay phải tỉnh
lộ 8 là về Bình Dương, hướng tay trái là đi Long An. Xe của chúng tôi vẫn chạy
thẳng trên quốc lộ 22A qua cầu vượt Củ Chi là đến với chợ Củ Chi nằm bên tay
trái và đối diện là bến xe Củ Chi nằm bên tay phải. Cùng chiều với bến xe Củ
Chi là Khu Công Nghiệp Tây Bắc Củ Chi. Ta sắp đến ngã ba Nguyễn Thị Rành. Bà cư
ngụ tại ấp Trúc Đèn, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, bà được
Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm
1978. Bà có 8 con trai và 2 cháu nội là liệt sĩ và đã được Chủ tịch nước và Quốc
hội tuyên xưng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng năm 1994. Trong kháng chiến chống
Mỹ, bà là cơ sở bí mật của cách mạng, là dân quân của xã, bám trụ ở Củ Chi. Bà
đã đào hầm nuôi giấu hàng trăm cán bộ, cất giấu vũ khí, tiếp tế cho du kích, động
viên con cháu vào bộ đội, tham gia đấu tranh chính trị trực diện với quân địch.
Sau đó, bà bị bắt và bị tra tấn dã man, nhưng bà vẫn không chịu tiết lộ điều
gì, bà mất năm 1979. Ngay sau khi qua đời, bà được dựng tượng trước Bảo Tàng Phụ
Nữ Nam Bộ. Tên của bà cũng được đặt cho một trạm y tế tại huyện Củ Chi. Quẹo phải
đường Nguyễn Thị Rành là ta đến với Địa Đạo Củ Chi. Xe chúng tôi vẫn tiếp tục
chạy trên quốc lộ 22A. bên trái là chợ Phước Thạnh. Trước mặt chúng tôi là ngã
tư Phước Thạnh giao với tỉnh lộ 7, qua tỉnh lộ 7 là đến tỉnh lộ 6 của quốc lộ
22A. Đến km30 tại trạm xăng dầu Suối Sâu. Đây là ranh giới giữa địa phận Tp Hồ
Chí Minh và Tây Ninh.
Bên trái chúng tôi giờ đây là khu Công
Nghiệp Trảng Bàng. Đối diện là nhà hàng bánh canh Hoàng Minh 2 tại km34. 6h10’
chúng tôi xuống xe ăn sáng tại đó.
Tại đây tôi được thưởng
thức món bánh canh khác lạ, bằng những sợi bánh canh làm từ bột gạo kết hợp với
những hương vị đặc biệt, những sợi rau sống xanh tươi đã tạo ra tô bánh canh thật đơn giản
nhưng cũng thật bắt mắt và ngon miệng. Sau khithưởng thức món bánh canh nơi đây
tôi đã tìm được lí do vì sao mọi người
thường nhắc đến món bánh canh Trảng Bàng và vì sao mọi người chọn Trảng
Bàng là nơi dừng chân để ăn sáng cho các tour du lịch từ TP. Hồ Chí Minh đến
Tây Ninh – Củ Chi. Sau khi ăn sáng xong khoảng 7 giờ chúng tôi lên xe và đi thẳng
trên quốc lộ 22A, đến ngã ba Trảng Bàng chúng tôi rẽ phai theo quộc lộ 22 để đến
với trung tâm của huyện Trảng Bàng. Trước mắt chúng tôi là ngã tư Trảng Bàng,
quẹo phải là đường Nguyễn Văn Rốp .Ông là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X.
Thuộc đoàn đại biểu Tây Ninh. Thuộc tỉnh lộ 19 để về hướng ngã tư Hai Châu. Đi
ngang qua nhà hàng Năm Dung, Út Huệ. Đây là 2 quán bánh canh nổi tiếng lâu đời
nhất Tây Ninh. Từ ngã ba Trảng Bàng ta cũng có thể đi đường Bời Lời tỉnh lộ 782
đến ngã tư Hai Châu.
Xe chúng tôi tiếp tục lăn bánh trên tỉnh
lộ 782 đường Bời Lời và qua huyện Trảng Bàng để đến với huyện Gò Dầu của tỉnh
Tây Ninh. Bên trái chúng tôi bây giờ là chợ Bàu Đồn. Qua chợ Bàu Đồn là đến
ranh giới của huyện Dương Minh Châu và huyện Gò Dầu của tỉnh Tây Ninh và bắt đầu
bước vào tỉnh lộ 784. Bên trái là thị xã Tây Ninh, trước mặt là cầu K13, chạy
qua cầu K13 nhìn bên phải là hồ Dầu Tiếng. Cách thị xã Tây Ninh 20km Hồ có diện
tích 27.000ha, có sức chứa 1.5tỷ m3 nước tưới cho đồng ruộng của tỉnh và các tỉnh
lận cận. Hồ Dầu Tiếng là công trình thủy lợi lớn nhất nước ta, hồ được ngăn bởi
con sông lớn đó là sông Sài Gòn. Năm 1980 Uy Ban nhân dân tỉnh tây Ninh kết hợp
với bộ thủy lợi tiến hành khảo sát ngăn sông Sài Gòn đắp đập Dầu Tiếng. Vì do
điều kiện tưới tiêu để sản xuất và tăng năng suất cho tỉnh. Hồ Dầu Tiếng được
khởi công xây dựng ngày 19-04-1981 và hoàn thành vào tháng 10-01-1985. Tổng
kinh phí là 1000 tỉ đồng , hồ phục vụ tưới tiêu cho 172.000ha đất trồng.
Lúc này thì núi Bà Đen dần dần ló dạng
trước mắt quý khách. Hướng dẫn viên giới thiệu thì nhìntừ xa núi Bà Đen trông
như chiếc nón lá nằm trên một cánh đồng được trải thảm xanh. Trước mặt xe chúng tôi là ngã tư Núi
Bà, rẽ phải tại ngã tư Núi Bà là đi vào tỉnh lộ 790 đến với Khu Di Tích Lịch Sử
- Văn Hóa Núi Bà Đen. Bây giờ là 8h20, chúng tôi đã đến Khu Di Tích Lịch Sử -
Văn Hóa Núi Bà Đen. Theo sự hướng dẫn của hướng dẫn viên, quý khách di chuyển
vào cổng. Có hai phương tiện để di chuyển lên Núi Bà là cáp treo và máng trượt
hiện nay Khu Di Tích Lịch Sử - Văn Hóa Núi Bà Đen vừa lắp đặt hệ thống cáp treo
mới hiện đại hơn có thể chứa được đến 8 người thay vì cáp treo củ chỉ đi được 2
người. Chúng tôi theo sự hướng dẫn cùa thầy đến khu vực cáp treo mới để bắt đầu di chuyển lên núi bằng cáp với giá
cáp treo 1 người là 80.000 nghìn.

Khi lên trên cao thì mọi thứ ở dưới tôi đều
trở nên nhỏ bé. Từ độ cao của cáp treo
nhìn về phía bên phải ở phía xa tôi có thể nhìn thấy hình ảnh của Hồ Dầu
Tiếng. Sau khi được thưởng thức cáp treo
và các cảnh vật xung quanh thì chúng tôi cũng
đã tới đỉnh và chúng tôi bước ra cabin
tiếp bước lên những bậc thang để đến
chùa Bà (Thay vì hay gọi là Linh SơnThánh Mẫu) tiếp theo chúng tôi được
tham quan chùa Hang, chùa Phật ….. Ngoài ra ở trên đó còn có các hang động như
là:Hang Gió, động Huyền Môn, động Kim Quang..Ngoài chức
năng là những
hang động nơi
đây xưa kia
còn là căn cứ
cách mạng của quân ta.
1.
Khu
Di Tích Lịch Sử - Văn Hóa Núi Bà Đen.
Khi đến với núi du
khách sẽ được tìm hiểu về sự tích núi Bà Đen và vì sao nơi đây lại thu hút được
rất nhiều người đến đây tham quan và hành hương .Nơi tỉnh Tây Ninh có một ngọn
núi cao nhất miền Nam Việt Nam với độ cao 986m được gọi là núi Ðiện Bà, tục gọi
là núi Bà Ðen, vì trên núi có lập một cái Ðiện để thờ Bà Ðen. Bà Ðen rất linh
hiển nên được vua Gia Long truyền cho đúc cốt Bà bằng đồng đen và sắc phong là
Linh Sơn Thánh Mẫu.
SỰ TÍCH BÀ ÐEN:
Có hai truyền thuyết về
sự tích Bà Ðen:
- Bà Đen là nàng Đênh ,
người Cao Miên
- Bà Đen là Lý Thị
Thiên Hương Người Việt Nam. Lễ Vía Linh Sơn Thánh Mẫu được tổ chức hằng năm tại
Ðiện Bà vào dịp đầu Xuân, từ ngày mùng 10 đến 15 tháng Giêng âm lịch, có hằng
trăm ngàn người đến cúngvái cầu xin sự phò hộ của Bà để việc kinh doanh và việc
gia đình được may mắn tốt đẹp.
Núi Bà Đen
- một quần thể di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng. từ lâu vốn là biểu
tượng về đất và người của quê hương tây Ninh. Người Việt đến vùng đất Tây Ninh
xưa khai mở đất đai, sinh cơ lập nghiêp, thì các tăng ni phật tử cũng đồng thời
đến đây xây dựng am, miếu, chùa chiềng thờ phật.Trong đó, hệ thống am, điện,
chùa, hang đông ở Núi Bà Đen đã từ lâu thu hút đông đảo khách thập phương đến
viếng lễ hằng năm.

Truyền thuyết về Bà Đen. Linh Sơn Thánh Mẫu,
với hệ thống chùa, điện, hang động…cùng với nhiều sự tích trong các cuộc kháng
chiến chống ngoại xâm đã tô đậm các sự kiện lịch sử trên Núi Bà Đen. Với cảnh
quang hùng vĩ của núi đã tạo nên Khu Di Tích Lịch Sử - Văn Hóa nổi tiếng ở Nam
Bộ và cả nước. con đường từ chân núi đến chùa Bà, chùa Hang được nâng cấp mở rộng,
cùng với hệ thống nhà trạm dừng chân cho khách hành hương. Khi nói đến núi Bà
Đen người ta nghĩ ngay đến Điện Bà hay Linh Sơn Tiên Thạch Tự. Điện Bà ở độ cao
350m, khu vực này có chùa Thượng (chùa Bà) và chùa Hang và hiện nay còn có Phật
Nhập Thiết Bàn tượng Phật nằm lớn nhất miền Nam.
Điện Bà được cải tạo từ
một mái đá tự nhiên nhô ra tạo thành một hang động. Vòm mái cao 2,5m; cửa rộng
6m. Hai bên được xây gạch ốp sát vách đá. Ở giữa có xây cột gạch chống đỡ, vòm
mái trước xây thêm tạo thành 2 lớp nhà điện dài 8m dùng để nơi phật tử chiêm
bái và hành lễ. Trong động thờ cốt Bà (tượng Bà) và các tiên nữ.
Tháng giêng hàng năm thiện nam, tính nữ thập
phương về lễ viếng Bà cầu tài, xin lộc. Đặc biệt, ngày mùng 5 tháng giêng hàng
năm, ngày vía Bà có hàng chục vạn lượt người đến viếng lễ. Suốt trong năm mỗi
ngày đều có người hành hương về núi viếng Bà.
Bên trong Điện Bà thờ
chính là Bà Lý Thị Thiên Hương và tứ thiên vương Ma Lễ Hồng, Ma Lễ Thanh, Ma Lễ
Hải, Ma Lễ Thọ.
Linh Sơn Tiên Thạch Tự thờ
Phật Thích Ca ở chính điện 2
Toàn bộ quần thể núi Bà rải rác có nhiều
chùa, nhưng chỉ có ngôi chùa chính có quy mô lớn. Ngoài chùa Thượng (chùa Bà)
còn có chùa Hạ, chùa Trung. Những ngôi chùa này đã được xây dựng từ lâu đời,
nhưng qua các cuộc chiến tranh ác liệt, bom đạn tàn phá nên đổ nát. Những ngôi
chùa hiện nay được xây dựng lại từ các năm 1995, 1997.
Từ năm 1956, lập ra Hội núi Điện Bà do bác
sĩ Nguyễn Văn Thọ giữ chức danh Hội trưởng.
Từ năm 1983, tỉnh Tây Ninh thành lập Ban Tổ
chức Hội xuân Núi Bà hàng năm và Ban Quản lý di tích lịch sử văn hóa núi Bà
Đen.
Cấu tạo địa chất bởi nhiều tầng đá tảng
chồng lên nhau tạo ra nhiều hang động tự nhiên và một thảm động, thực vật phong
phú đa dạng về sinh thái. Với đỉnh núi cao nhất Nam bộ, núi Bà Đen trở thành một
vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, nên trong suốt 2 cuộc kháng chiến giải
phóng dân tộc (1946 - 1975), lực lượng cách mạng và phản cách mạng đã giành giật
nhau quyết liệt quả núi này.
Tháng 6/1946 lực lượng kháng chiến rút lên
núi, thực dân Pháp đưa quân lên bao vây, cuộc chiến đấu tại dốc thượng làm tiêu
hao nhiều binh lực Pháp. Chùa Trung đã từng làm nơi hội nghị của Chủ tịch Ủy
ban Hành chánh kháng chiến các xã để trường kỳ kháng chiến. Suốt 15 năm kháng
chiến chống Mỹ (1960 - 1975) nhiều đơn vị của cách mạng bám giữ núi Bà Đen. Đã
có 7 lần tấn công căn cứ truyền tin của quân Mỹ trên đỉnh núi. Các căn cứ Huyện
ủy Tòa Thánh. Dương Minh Châu, Liên đội 7 và nhiều đơn vị chủ lực đã bám núi
đánh giặc – đến ngày 6/1/1975 toàn bộ núi Bà Đen được hoàn toàn giải phóng.
Sau khi du khách nghe
hướng dẫn thuyết minh và tham quan về núi Bà Đen, và sau đó theo sự chỉ dẫn của
hướng dẫn viên du khách đi bộ xuống núi. Dọc hai bên lối đi có rất nhiều quầy
hàng quà lưu niệm, kem và nước uống. Giá cả ở đây thay đổi theo độ cao của từng
quầy. Cuối cùng du khách cũng xuống tới núi và tập hợp ra xe để di chuyển đến
Tòa Thánh Tây Ninh. Xe lăn bánh ngược ra ngã tư Núi Bà chạy trên tỉnh lộ 790
qua cầu K18, quẹo trái ở Điện Biên Phủ và tiếp tục quẹo phải ở Cách Mạng Tháng
Tám. Cuối đường là vòng xoay ngã tư, xe chúng tôi ôm vòng xoay theo hướng đường
Lý Thường Kiệt để vào Tòa Thánh. Tòa Thánh có 12 cổng và xe chúng tôi dừng ở cổng
số 4.
11h25 xe dừng ở cổng và chúng tôi đi bộ
vào trong khu vực Tòa Thánh. Đến đây hướng dẫn viên thuyết minh cho du khách
nghe về Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
2.
Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
Tây Ninh, nơi đã chắc lọc tinh hoa của ba
tôn giáo lớn: Phật, Lão, Nho hiện còn lưu giữ những giá trị truyền thống, sự kết
hợp của ba dòng tôn giáo nên được gọi là: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Tòa thánh Cao
Đài nằm trong khu vực ngoại ô của thị xã Tây Ninh, do Hòa Thượng Như Nhãn xây dựng
từ năm 1926, lấy Tây Ninh làm nơi để khai sinh, một vùng đất vốn còn nhiều khó
khăn nhưng sự ra đời của tòa thánh đã thu hút hàng vạn tín đồ tham dự. Tây
Ninh, nơi đã chắc lọc tinh hoa của ba tôn giáo lớn: Phật, Lão, Nho hiện còn lưu
giữ những giá trị truyền thống, sự kết hợp của ba dòng tôn giáo nên được gọi
là: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Tòa thánh ra đời vào năm 1926, khởi đầu
khai sinh gặp nhiều khó khăn bởi núi non và rừng rậm, vùng đất đầu tiên đặt nền
móng tại chùa Gò Kén, sự ra đời của tòa thánh đánh dấu bước quan trọng của một
nền tản tôn giáo Đạo Cao Đài. Lúc ấy đạo ra đời thu hút hàng vạn tín đồ tham
gia như từ các tỉnh miền tây và Sài Gòn.
Toà Thánh Cao Đài Tây Ninh cách Thị xã
Tây Ninh độ 5km, cách Núi Bà Đen độ 8km và cáchThành Phố Hồ Chí Minh 100km.
Từ Chánh môn đến Đền
Thánh, trước tiên ta thấy có ba bảo tháp để chứa nhục thể của Đức Hộ Pháp, Đức
Thượng Phẩm và Đức Thượng Sanh. Các Tháp được xây đắp, chạm trổ nhiều hoạ tiết
tinh vi và có hình Bát quái.
Qua khỏi các tháp là sân Đại Đồng Xã có
tượng Thái tử Siddharta cưỡi ngựa tìm Đạo, theo sau là Channa, người hầu cận. Kế
đến là Cửu Trùng Thiên, hình bát quái có 9 bậc và được sơn ba màu vàng, xanh, đỏ.
Gần đó là cây bồ đề cổ thụ do Đại Đức Thera Narada tặng cây con lấy từ Bồ đề đạo
tràng bên Ấn độ (1953). Chính nơi Bồ Đề đạo tràng, Thái tử Siddharta đã tham
thiền nhập định và trở thành Đấng Giác Ngộ, Đức Phật Thích Ca.
Hai bên Đại đồng xã có
hai khán đài với 2 con đường dẫn đến Đền Thánh. Cách cội bồ đề vài thước có cột
phướn với lá phướn phất phới bay trong gió. Cột phướn cao độ 18m, lá phướn dài
12m và rộng 1,2m. Phía trên màu vàng thêu hai con rồng chầu mặt trời. Thân phướn
có ba sọc vàng, xanh, đỏ. Ở giữa vùng xanh có hình Thiên Nhãn, Cổ Pháp Tam giáo
và sáu chữ ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ bằng Hán tự. Sân gạch có cột phướn và cây Bồ đề
được gọi là Đại Đồng Xã. Cái tên nói lên tính nhân bản chia xẻ cùng nhau, và
tinh thần đại đồng để có thể chung sống hòa bình.
Tín đồ Cao Đài rất hãnh diện có được Ngôi
Tòa Thánh đồ sộ, nguy nga, tráng lệ do Thiên Ý hợp cùng Nhơn lực tạo nên, tiêu
biểu cho nền Đại Đạo với tôn chỉ: Quy nguyên tam giáo, phục nhứt ngũ chi.
Kích thước của Tòa
Thánh:
Theo qui định thiết kế
nền cao 1.8 m, rộng 27m, dài 135mHiệp Thiên Đài dài 27m, có lầu chuông, và lầu
trống cao 36m, Cửu Trùng Đài dài 81m, có tháp tròn ở giữa gọi là Nghinh Phong
Đài cao 25m, Bát Quái Đài dài 27m. tháp cao 30m.
Theo thực tế vì tín đồ
lúc đó còn nghèo, Hội Thánh gặp khó khăn về tiền bạc nên khi thi công đã thu bớt
lại kích thước trên. Số đo thực tế chỉ còn có: chiều rộng 22m, dài 97.5m, trong
đó: Hiệp Thiên Đài dài 13, Cửu Trùng Đài dài 63m,Bát Quái Đài dài 21m.
BÊN TRONG ĐỀN THÁNH
Hiệp Thiên Đài: Từ Tịnh Tâm Điện có hai
cửa đi vào bên trong Đền Thánh. Bên trong được chia thành ba gian. Ở giữa là
chánh điện, bên phải dành cho Nam phái quỳ hành lễ, bên trái dành cho Nữ phái.
Quay lại nhìn vào mặt
sau bức tường có hình Tam Thánh, ta thấy :
Tượng Đức Hộ Pháp ở giữa,
mặc đại phục, đứng trên tòa sen, đặt trên bực cao hơn hết, dưới có 7 đầu rắn,
tay mặt cầm Kim Tiên.
Tượng của Đức Thựơng Phẩm Cao Quỳnh Cư bên tay
mặt Đức Hộ Pháp, đứng trên tòa sen trước cây Phướn Thượng Phẩm, mặc đại phục,
tay mặt cầm Long Tu Phiến có gắn Phất chủ, tay trái cầm xâu chuỗi Từ Bi.
Tượng của Đức Thượng Sanh Cao Hoài
Sang bên trái Đức Hộ Pháp, đứng trên tòa sen trước cây Phướn Thượng Sanh, mặc đại
phục, tay mặt cầm Phất chủ, tay trái cầm xâu chuỗi từ bi, sau lưng giắt Thư
Hùng Kiếm.
Đức Hộ Pháp đạp lên hai
đầu rắn có chữ Nộ (hờn giận), Ai (buồn) và hai tay kềm hai đầu rắn có chữ Ố
(oán ghét), Dục (ham muốn) tượng trưng cho 4 tính xấu cần chế ngự, và 3 đầu hướng
lên tức 3 tính tốt cần nuôi dưỡng là: Hỉ (vui mừng), Ái (thương xót), Lạc (vui
vẻ).
Đầu rắn quấn vào đôn Đức
Hộ Pháp, phần giữa quấn vào đôn Đức Thượng Phẩm, và đuôi rắn quấn vào đôn của đức
Thượng Sanh. Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc là vị đứng đầu chi Pháp.Đức Thượng Phẩm
Cao Quỳnh Cư đứng đầu chi Đạo. Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang đứng đầu chi Thế.Trên
vách tường sau ngai Đức Hộ Pháp có tạc một chữ KHÍ với ý nghĩa thờ khí sanh
quang. Chữ KHÍ là nguồn cội của Pháp đã biến sanh ra vạn vật. Toàn bộ Pháp giới điều khiển
Càn khôn Vũ trụ đều do nơi chữ KHÍ mà sanh sanh hóa hóa. Hai bên chữ KHÍ có đôi
liễn:
PHẠM GIÁO TÙY NGƯƠN, CỨU THẾ ĐỘ NHƠN
HÀNH CHÁNH PHÁP.
MÔN QUYỀN ĐỊNH HỘI, TRỪ TÀ DIỆT MỊ HỘ
CHƠN TRUYỀN.
Ý nghĩa:
Phật dạy tùy thời mà cứu độ người đời,
thi hành chánh pháp
Quyền lực nơi cửa Đạo định ra thời kỳ
diệt tà mị, bảo hộ chơn truyền.
Hiệp Thiên Đài là cơ quan có nhiệm vụ
thông công giúp con người liên hệ học hỏi với các Đấng thiêng liêng. Hiệp Thiên
Đài là cơ quan Đạo Pháp, là cầu nối giữa thế gian (Cửu Trùng Đài) với Thần,
Thánh, Tiên, Phật (Bát Quái Đài).
Cửu Trùng Đài:Bên trong Đền Thánh
có 28 cột rồng tượng trưng cho Nhị Thập Bát Tú giáng trần giáo đạo đứng chầu
Thượng Đế. Các cột rồng sơn màu xanh, đỏ, trắng là để tượng trưng cho ba kỳ phổ
độ.
Nhất kỳ phổ độ có Thanh Dương Đại
Hội để phán đoán đức hạnh và công quả tu hành của nhân sanh do Đức Phật Nhiên
Đăng chưởng pháp.
Nhị kỳ phổ độ có Hồng Dương Đại Hội do Đức
Phật Di Đà điều khiển.
- Tam Kỳ Phổ Độ có Bạch Dương Đại
Hội do Đức Di Lặc chưởng quản.
Do đó, các rồng trắng dưới quả Càn Khôn
cho biết đã đến thời kỳ Bạch Dương và cột rồng vàng (Huỳnh long) tượng trưng
các vị Phật đến dự Đại Hội Long Hoa.Cửu Trùng Đài là phần giữa, nối liền Hiệp
Thiên Đài và Bát Quái Đài.Hai bên vách Đền Thánh tạc hình hoa sen, gương sen và
ngó sen trong khung hình chữ nhựt đứng, ở giữa có khung tam giác tạcThiên Nhãn
phản chiếu các tia rẽ quạt rất sinh động. Khung hình này mang nhiều ý nghĩa mầu nhiệm.
Thiên Nhãn tượng trưng cho Thái cực.
Hình tam giác tượng trưng cho Tam giáo
đồng nguyên.
Bụi sen trên, bụi sen dưới tượng trưng
Âm Dương tức Lưỡng Nghi
4 trái sen hai bên tượng trưng Tứ Tượng
8 lá sen tượng trưng Bát Quái
12 ngó sen tượng trưng Thập nhị Khai
Thiên.
Cây Sen tượng trưng cho đời sống con
người và cũng tượng trưng cho đời sống của Đại vũ trụ. Triết lý huyền bí dạy
các yếu tố của cả hai đều giống nhau và đều phát triển theo cùng một hướng. Rễ
sen chìm trong bùn, tượng trưng đời sống vật chất; thân đi xuyên qua nước,
tượng trưng cho đời sống cõi cảm dục, còn hoa nổi trên nước và mở ra với bầu
trời, tượng trưng cho đời sống tinh thần.
Phần tiếp giáp với Bát Quái Đài có đặt
bảy cái ngai sơn son thếp vàng chạm trổ tinh vi, được đặt theo thứ tự:
Một ngai Giáo Tông chạm rồng, Ba ngai
Chưởng Pháp chạm phượng,Ba ngai Đầu Sư chạm lân, Bảy chiếc ngai bị chắn bởi bức
bình phong chạm rồng mạ vàng rất linh động. Hai bên ngai thiết trí hai hàng lổ
bộ bửu pháp của Bát Tiên.
Bậc tiếp giáp với Cửu Trùng Đài được
gọi là Cung Đạo. Trên nóc Cung Đạo đúc vòm Trời và một hình bầu dục mây trắng
chung quanh những tia hào quang dài (12) xen kẻ với những tia hào quang ngắn
(24). Bên trong có chạm hình Thiên Nhãn, một người nam tượng trưng cho nhân
lọai, Đại ngọc cơ, Tiểu ngọc cơ với bảng mẫu tự A,B,C..., một cái bàn ba chân
dùng xây bàn, một ống xăm; tất cả là những phương tiện thông công giữa người và
cõi vô hình. Trong kỳ lập Đạo lần này, Đức Thượng Đế đã dùng Cơ bút để dạy Đạo
ở buổi đầu.
Mặt trước và phía trên Cung Đạo có đúc bức
hoành hình chữ M, tạc tượng các Giáo chủ của Tam giáo, Tam Trấn và Ngũ chi Đại
Đạo.
Hàng trên là ba vị Giáo chủ : Lão Tử,
Thích Ca, Khổng Tử .
Hàng giữa là ba vị Tam Trấn : Quan Âm, Lý
Bạch, Quan Thánh. Ba vị này tượng trưng cho ba tánh BI, TRÍ, DŨNG của Tam Giáo
Hàng dưới Lý Bạch là Jésus Christ và
Khương Thượng.
Khi xếp một vị ở dưới một vị khác,
không có ý nghĩa cao thấp. Nếu kể từ Đức Thích Ca xuống thì đại diện Ngũ Chi
Đại Đạo là: Phật đạo (Thích Ca), Tiên đạo (Lý Bạch), Thánh đạo (Jésus Christ),
Thần đạo (Khương Thái Công), Nhơn đạo (Giáo Tông),Bức hoành bên tả thờ Bát
Tiên,Bức hoành bên hữu thờ Thất Thánh.
Phần sau của Bát Quái Đài là nơi đặt
quả Càn Khôn. Phần này nằm về hướng Đông của Đền Thánh. Càn Khôn là hai quẻ
trong Kinh Dịch, tượng trưng cho Trời và Đất. Quả Càn Khôn tượng trưng vũ trụ
của Đấng Ngọc Hoàng.
Trước quả Càn Khôn là bàn thờ . Trên Thiên bàn có đủ 12 phẩm
vật:
Thiên Nhãn (mắt trái) 1 Thái Cực Đăng (ngọn
đèn luôn luôn cháy tượng trưng cho linh hồn vũ trụ)
Hai cây đèn ở hai bên tượng trưng cho lưỡng
nghi (âm - dương),1 bình hoa (tượng trưng cho TINH) và 1 dĩa trái cây, 3 ly
rượu (tượng trưng cho KHÍ), 1 tách trà (tượng trưng cho THẦN) và 1 tách nước
lạnh (nước Âm Dương), 1 lư hương
BÊN NGOÀI TÒA THÁNH
Mỗi bên hông Đền Thánh có 6 cửa ra vào.
Các bậc lên xây dựng như bậc thang mà hai bên có tượng Kim Mao Hẩu.
Nóc của Cửu Trùng Đài lợp ngói đỏ, có
Nghinh Phong Đài. Đài cao 17m, phần dưới hình vuông, phần trên hình vòm cầu
trông giống kiến trúc của các nhà thờ Hồi giáo. Trên quả địa cầu có tượng Long
Mã mang Hà Đồ chạy về hướng Tây, quay đầu về hướng Đông. Bởi lẽ Á châu là nơi
phát sinh của nhiều tôn giáo “Đạo phát ư Đông, di ư Tây, phản hồi ư Đông
Dưới mái hiên Đài trang trí các dây
trái nho. Trên dây nho có vẽ đôi chim hạc bay trên biển vào lúc rạng Đông. Đức
Jesus đã giảng: “ Ta là cây nho, các con là cành.”. Ngài ban phát sự sống và
sức sanh sản cho các cành là chúng ta. Cây và trái nho tượng trưng Hình Thể,
nước nho tượng trưng Chơn Thần, và rượu nho tượng trưng Linh Hồn
Nóc Bát Quái Đài cao 30m, lợp ngói màu
vàng, trên đỉnh đúc tượng Tam Thế Phật
Phật Brahma mặt nhìn về hướng Tây, đứng
trên lưng con Thiên Nga, tay mặt bắt ấn, tay trái cầm bửu châu. Phật Chrisna
(Krisna), một hóa thân của Phật Vishnu mặt nhìn về hướng Nam, đứng trên con
Giao Long, một tay chống nạnh và một tay chống bửu kiếm.Phật Civa (Siva) mặt nhìn về hướng Bắc, đứng trên
Thất đầu xà và đang thổi sáo.
Tam Thế Phật tượng trưng ba ngôi của
Thượng Đế: sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt. Đó là cơ tuần hoàn của vũ trụ theo lẽ
biến dịch. Theo Đạo Cao Đài, nhân loại
đang ở vào Hạ ngưng tâm chuyển, thời mạt pháp. Đạo Cao Đài được sáng lập
nhằm mục đích giác ngộ loài người hướng thiện, mở một kỷ nguyên hòa đồng, hiệp
đồng và đại đồng. Thánh giáo gọi đó là trở về đời Thượng nguơn Thánh Đức.
Sau lưng Đền Thánh có dãy nhà mà từ
trên cao ta thấy chúng hợp với Đền Thánh thành chữ SƠN theo Hán tự. Bên ngoài
Đền Thánh nhìn lên Nghinh Phong Đài có hình vòm cong, thường thấy trong kiến
trúc của các nhà thờ Ấn Độ và Trung Đông. Tuy được kết hợp bởi các lọai hình
kiến trúc Âu Á khác nhau như thế nhưng Đền Thánh vẫn nổi bật nét văn hóa Việt
với Tứ Linh: Long, Lân, Quy, Phụng và hình ảnh hoa sen. Khi du khách đến viếng
Đền Thánh, ấn tượng đẹp đầu tiên đến với họ là khung cảnh hài hòa giữa kiến
trúc xây dựng với thiên nhiên xung quanh. Công trình kiến trúc này vừa mang dấu
ấn Dịch lý và triết lý tôn giáo ẩn chứa bên trong, vừa có vẻ đẹp hài hòa, kết
cấu bền vững. Đền Thánh Tây Ninh thực sự là một kỳ quan, một di sản văn hóa của
nhân loại.
Sử Đạo ghi nhận các sự kiện về nguồn
gốc thành lập Toà Thánh như sau:
7-10-1926, Quý vị khai sáng Đạo gửi
Tuyên ngôn Khai Đạo đến Thống đốc Nam Kỳ Le Fol thông báo mở Đạo Cao Đài.
19-11-1926 (Rằm tháng 10 Bính Dần), Quý
vị tiền khai mượn Chùa Gò Kén (Từ Lâm Tự) tỉnh Tây Ninh, do Hoà Thượng Như Nhãn
trụ trì, tổ chức đại lễ “Khai Minh Đại Đạo” trọng thể, kéo dài suốt mấy ngày
với hàng vạn tín đồ.
Mấy tháng sau, chùa bị đòi lại nên Đức
Lý Giáo Tông dạy quý ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn
Ngọc Tương và Lê Bá Trang đi tìm đất để cất. Chọn mua được 100 mẫu rừng cấm. Về
phong thủy, khu rừng này có địa thế rất tốt vì sâu dưới lòng đất có 6 mạch nước
tụ lại gọi là Lục Long phò ấn.
Từ tháng Giêng năm Đinh Mão
(1927), Đức Chí Tôn và Đức Lý Giáo Tông
đã dạy tất cả chi tiết, kích thước trong họa đồ, nhưng vì tín đồ còn ít và quá
nghèo nên một Tòa Thánh tạm được cất lên đơn sơ.
1931 đào móng, làm nền, đào hầm Bát
Quái Đài. Ngài Thái Thơ Thanh trông coi.
1933 Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung
Nhựt và Nữ Đầu Sư Hương Thanh tiếp nối công trình được thời gian ngắn rồi ngưng
lại.
13-10 Giáp Tuất (1934), Đức Quyền Giáo
Tông mất.
1935 cất lầu Hiệp Thiên Đài, đúc cột,
đổ tấm trần. Ngài Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh trông coi.
Sau khi Đức Quyền Giáo Tông đã đăng
tiên, Đức Hộ Pháp được giao nắm quyền chưởng quản cả hai Hội Thánh Hiệp Thiên
Đài và Cửu Trùng Đài và lập kế hoạch xây cất thành công Tòa Thánh.
Ngài huy động được 500 người làm công
quả. Tất cả đều lập nguyện trường chay và không lập gia đình để có đủ tinh
khiết trong thời gian công quả xây dựng Đền Thánh. Tiến hành liên tục trong
suốt bốn năm rưỡi thì chánh quyền Pháp khủng bố, bắt Đức Hộ Pháp đày đi
Madagascar ở Phi Châu.
Đến 30-8-1946, Đức Hộ Pháp mới được trở
về. Ngài huy động số người làm công quả trở lại tiếp tục công trình.
27-1-1947, Đức Hộ Pháp làm Lễ Trấn Thần
Tòa Thánh
29-1-1947 (8-1- Đinh Hợi), tổ chức Lễ An vị Quả Càn Khôn
1-2-1955 (9-1-Ất Mùi), nhân ngày Vía
Đức Chí Tôn, Đại lễ khánh thành Toà Thánh được tổ chức vô cùng trọng thể.
MÔ TẢ VÀ Ý NGHĨA CẤU TRÚC BÊN TRONG TÒA
THÁNH
Nhìn tổng thể Toà Thánh Cao Đài Tây
Ninh, người ta thấy Tòa Thánh mang hình tượng Long Mã bái sư. Long Mã là con
vật linh huyền thoại mang Hà đồ trên mình, gợi ý cho vua Phục Hy vẽ nên Bát
Quái Tiên Thiên.
Đầu Long Mã là mặt tiền nhìn thẳng về phía
Tây. Hai lầu chuông và trống vươn lên như hai sừng nhọn. Nằm giữa hai lầu
chuông trống là toà nhà lầu với tầng trệt (TỊNH TÂM ĐÀI) như miệng Long Mã hả
ra.
Tầng hai (PHI TƯỞNG ĐÀI) như cái trán với 2
cửa được coi như hai con mắt. Giữa là mắt Huệ (Thiên Nhãn). Trên cao có tượng
Đức Di Lặc ngồi trên lưng cọp và tòa sen.
Đuôi Long Mã là Bát Quái Đài hướng thẳng phía
Đông
Thân Long Mã là phần ở giữa Đền (CỬU
TRÙNG ĐÀI) chia thành 9 gian cao dần từ phía trước ra sau, nối liền Hiệp Thiên
Đài với Bát Quái Đài.
Tổng thể Đền Thánh rất nguy nga tráng lệ, chiều dài 97,5 mét, và chiều
ngang 22 mét. Mặt tiền day về hướng Tây. Bên trái là Lầu chuông được gọi là
Bạch Ngọc Chung Đài, bên phải là Lầu trống có tên là Lôi Âm Cổ Đài. Cả hai lầu
đều cao 27 mét, có 6 tầng với chiều cao khác nhau, có mái ngắn phân chia các
tầng.
Tầng trệt (tầng một) của hai tháp có
hai khuôn bông lớn hình chữ nhật, ở giữa có hai chữ Nho : CAO bên lầu trống và
ĐÀI bên lầu chuông. Bên trên khuôn bông này là 4 ô hình tròn có gắn chữ Nho :
BẠCH NGỌC CHUNG ĐÀI và LÔI ÂM CỔ ĐÀI.
Tầng hai của lầu chuông có đắp tượng
Đức Quyền Giáo Tông mặc Đạo phục đứng trên quả địa cầu, tay mặt cầm quyền Thiên
Thơ. Tầng hai của lầu trống đắp tượng Bà Nữ Đầu Sư Hương Thanh mặc đạo phục
đứng trên quả địa cầu, tay phải cầm nhánh bông, tay trái xách giỏ hoa. Đây là
hai vị chức sắc lớn có kỳ công khai mở Đạo và xây dựng Đền Thánh.
Tầng ba có chiều cao nhỏ hơn, có gắn
hai bông gió để thông hơi.
Tầng bốn có chiều cao lớn nhất để bên
trong đặt một cái trống lớn gọi là Lôi Âm Cổ
bên lầu trống và một cái chuông lớn gọi là Bạch Ngọc Chung bên lầu
chuông.
Trên đỉnh lầu chuông, dưới ngọn thu lôi
có tạc tượng cái hồ lô. Đó là bửu pháp của Đại Tiên Lý Thiết Quả, tiền kiếp của
Đức Quyền Giáo Tông.
Trên đỉnh lầu trống có tạc hình giỏ hoa
lam là bửu pháp của Long Nữ (thị giả của Đức Quan Thế Âm). Vị nầy vốn là ngươn
linh của bà Đầu Sư Lâm Hương Thanh.
Ngay cửa chính, phía trước có đúc 4 cột
trụ, mỗi bên có hai cột song song, một đắp hình rồng đỏ (LONG), một đắp hình
hoa sen (HOA), chạm trổ rất tinh vi, màu sắc rực rỡ, tượng trưng cho hai
chữ Long Hoa.
Đại hội Long Hoa là một cuộc thi tuyển
sau một Chuyển học hỏi và tiến hóa của nhân loại. Đại hội do Đức Di Lặc làm
chưởng quản. Những người được chấm đậu trong kỳ thi công đức thăng phẩm vị
Thần, Thánh, Tiên, Phật. Những người có công đức chưa đủ sẽ sống sót trở thành
giống dân mới lập đời Thượng Nguơn Thánh Đức. Còn những người không đậu phải
chờ đợi lớp thú cầm tiến hóa lên làm người mới nhập vào cùng chung sống, bắt
đầu một chu trình tiến hóa mới. Sự chờ đợi ấy có thể kéo dài cả triệu năm. Trước ngày khai Đại hội Long
Hoa sẽ có cuộc phán xét cuối cùng. Sau cuộc biến động dữ dội đó, Địa cầu trở
lại yên tĩnh.
Để vào Đền Thánh, người ta phải bước
qua năm bậc thềm. Năm bậc tượng trưng
cho Ngũ Chi Đại Đạo và năm bước tiến hóa của nhân loại: Người, Thần, Thánh,
Tiên, Phật. Sau khi bước qua, ngước mắt nhìn ngay giữa ta thấy Cân Công Bình,
cân tội phước từng con người, từng quốc gia...
Nhìn sang bên phải là tượng ông Thiện,
mình mặc giáp, đầu đội kim khôi, tay cầm đại đao nhưng gương mặt hiền từ, tượng
trưng cho điều thiện (chánh tâm). Bên trái là tượng ông Ác, cũng mặc khôi giáp,
nhưng gương mặt dữ dằn, một tay cầm búa, một tay cầm Ngọc ấn tỷ phù, tượng
trưng cho điều Ác (vọng tâm).
Phía trên 4 cột rồng có một bao lơn xây
hình bán nguyệt, đó là Lao Động Đài, đắp hình tượng 8 nghề trong xã hội: Sĩ,
Nông, Công, Thương, Ngư, Tiều, Canh, Mục với ý nghĩa: dù ở đâu, làm nghề gì,
sau khi mất linh hồn cũng về Toà Thánh để được định tội phước
Lá cờ Đạo được treo ngay giữa. Cờ Đạo
Cao Đài có ba màu: vàng ở trên, xanh ở giữa, đỏ ở cuối:
Phần màu vàng có thêu sáu chữ bằng Hán
tự:
ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Phần màu xanh thêu hình Thiên Nhãn và
Cổ Pháp Tam Giáo (sách Xuân Thu, cây PChính giữa hai lầu chuông trống là tượng
Thiên Nhãn, tượng trưng Đấng Thượng Đế toàn năng, hằng hửu. Hai bên Thiên Nhãn
có đắp 2 câu đối chữ Hán.
HIỆP NHẬP CAO ĐÀI BÁ TÁNH THẬP PHƯƠNG
QUI CHÁNH QUẢ.
THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO NGŨ CHI TAM GIÁO
HỘI LONG HOA.
Ý nghĩa:
Hiệp vào Cao
Đài, trăm họ mười phương sùng Chánh giáo.
Trời khai Đạo
lớn, năm nhánh ba giáo hội Long Hoa.
Trên hai câu đối này có hai chữ nho,
bên phải là chữ Nhân, bên trái là chữ Nghĩa. Đó là một trong những triết lý của
Đạo Cao Đài phát huy:
NHƠN BỐ TỨ
PHƯƠNG ĐẠI ĐAO DĨ NHƠN HƯNG XÃ TẮC.
NGHĨA BAN VẠN
ĐẠI TAM KỲ TRỌNG NGHĨA CHẤN SƠN HÀ
Ý nghĩa:Lòng nhơn đem rải khắp bốn
phương, đạo Cao đài lấy lòng nhơn làm hưng thịnh nước nhà.
Điều nghĩa ban cho muôn đời, Đại Đạo
Tam Kỳ Phổ Độ xem trọng điều nghĩa để làm rạng danh nước nhà.
Trên hai chữ Nhân Nghĩa có một hàng chữ
Hán và một hàng chữ Việt đều viết : Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Phía trên, ngay giữa hàng chữ này có Cổ
Pháp Tam giáo là Bình Bát Vu (Phật), Phất chủ (Tiên) và quyển Xuân Thu
(Thánh).Phía trong của tầng lầu hai Hiệp
Thiên Đài có tên Tiêu Diêu Điện.Chính nơi đây,các vị chức sắc Đại Thiên Phong
xin thông công với các Đấng Thiêng Liêng bằng phương pháp Thần cơ diệu bút.
Trên nóc Tiêu Diêu Điện có tượng Phật
Di Lặc (Maitreya) ngồi trên lưng cọp để kỷ niệm năm Bính Dần khai Đạo. Ngài còn
có tên là Từ Thị, Đấng Từ ái. Ngài đang giáo hóa tại cung trời Đâu Suất và sẽ
là vị Phật tương lai xuất hiện ở thế gian theo lời Đức Phật Thích Ca đã thọ ký.
Tương truyền rằng chính một ứng thân Bồ Tát của Đức Ngài khởi xướng trường phái
Duy thức tông hay Duy Tâm Tông vào đầu thế kỷ thứ tư. Tranh vẽ Đức Di Lặc của
Trung Quốc thường có biểu tượng là một vị mập tròn, vui vẻ với các trẻ em xung
quanh. Đó là hình ảnh của Bố Đại Hòa thượng, một hóa thân của Di Lặc ở thế kỷ
thứ 10. Tranh ở vùng Bắc Ấn và Tây Tạng thường vẽ Ngài với tay bắt ấn chuyển
pháp luân, có nghĩa rằng khi xuất hiện trên thế gian, Ngài sẽ quay bánh xe Pháp
một lần nữa để cứu độ tất cả chúng sinh. Mặt khác, theo Thánh giáo, Đức Chí Tôn
lập Đạo và đưa nhơn loại đến Hội Long Hoa do chính Đức Di Lặc làm Chánh chủ khảo tuyển chọn và truyền giảng
Lý HÒA ĐỒNG – BÁC ÁI tạo đời Thượng
ngươn Thánh đức.hất Chủ, bình Bát Vu)
Bước lên năm bậc thềm là ta đã bước vào
TỊNH TÂM ĐIỆN, nơi để chức sắc và tín đồ ngồi tịnh tâm và định thần giữ lòng
thanh tịnh trước khi vào chầu Lễ. Trước mặt ta là tượng Tam Thánh. Tam Thánh là
ba vị Thánh ở Bạch Vân Động nơi cõi Thiêng liêng.
Đó là : Đức Thanh Sơn Chơn nhơn mà
trong kiếp giáng trần ở Việt Nam có tên Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình). Ngài
cầm bút lông viết tám chữ Nho :
THIÊN THƯỢNG,
THIÊN HẠ
BÁC ÁI, CÔNG
BÌNH
Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn mà trong kiếp
giáng trần ở nước Pháp là Đại văn hào Victor Hugo 
Đức Trung Sơn Chơn nhơn mà trong kiếp
giáng trần ở Trung Hoa, Ngài là nhà cách mạng có tên là Tôn Văn, Tôn Dật Tiên
(Sun Yat Sen) đã lập nên nền dân chủ. Ngài cầm nghiên mực tỏa hào quang, tượng
trưng dung hòa văn hóa Đông Tây đặt trên nền tảng triết lý tối cổ của Nho giáo.
Ba vị Thánh này thay mặt nhơn loại ký
bản hoà ước giữa Trời và Người gọi là
Thiên Nhơn hòa ước. Hòa ước này rất đơn giản, chỉ có bốn chữ :
BÁC ÁI – CÔNG
BÌNH
THƯƠNG YÊU và
CÔNG CHÁNH
Là hai điều Thượng đế yêu cầu con người
thực hiện để được cứu rỗi. Nếu con người không thực hiện mà làm ngược lại thì
sẽ bị đọa, không còn kêu nài gì được nữa. Muốn được bốn chữ đó phải tìm cách
phụng sự nhơn sanh, giúp đời bớt khổ. Hòa ước này được ký kể từ ngày Đức Thượng
Đế mở Đạo Cao Đài để Đại Ân xá cho nhơn loại.
Từ Tịnh Tâm Điện có đường lên lầu Hiệp
Thiên Đài, nơi đặt bàn thờ Chức sắc Hiệp Thiên Đài đã qui liễu. Trước bàn thờ
là nơi ban nhạc lễ đàn khi cúng. Từ Hiệp Thiên Đài có hai đường lên lầu chuông,
lầu trống. Mỗi tầng bên trên có một cửa sổ lớn nên tiếng chuông. trống khi đánh
lên vang vọng trên không trung.
Cửu Trùng Đài :
Có chín bậc, mỗi bậc dài 7m, bậc trên cao hơn
bậc dưới 18cm. Mỗi bậc ngăn cách nhau bằng hai cột rồng xanh. Tổng cộng có 18
cột đứng thành hai hàng song song.
Cửu Trùng Đài có 9 bậc tương ứng với hệ
thống 9 bậc giáo phẩm như sau: Từ thấp lên cao có: Tín đồ (Đạo hữu), Chức Việc
Bàn Trị Sự, Lễ Sanh, Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Đầu Sư, Chưởng Pháp và Giáo
Tông.
Trên vòm trần nhà tượng trưng bầu trời
có màu xanh biếc với những đám mây trắng cùng hàng trăm vì tinh tú. Ở giữa có
chạm hình 6 con rồng (2 con màu vàng, 2 con màu xanh, 2 con màu đỏ), chung
quanh sơn màu xanh da trời, lấy ý trong bài Ngọc Hoàng Kinh là : Thời thừa lục
long, du hành bất tức.
Ý nghĩa: Đức Chí Tôn thường ngự trên
sáu con rồng,theo thời vận tuần du khắp vũ trụ.Sáu rồng còn là quẻ Càn, tượng
trưng Đạo Trời.Đạo biến hóa nhiệm mầu khắp nơi, không hề ngưng nghỉ.
Hàng chức sắc quỳ cúng hành lễ ở gian
chính giữa. Tín đồ nam, nữ quỳ ở hai bên riêng biệt. Hai gian bên có trần nhà
phẳng, khắc hình Lân, Quy, Phụng. Các con thú này hợp với Rồng ở hàng cột được
gọi là Tứ Linh.
Từ Bát Quái Đài đếm trở xuống thì cấp
thứ sáu dành cho Giáo Hữu.Ở cấp này, mỗi bên nam nữ có một Giảng Đài ,cấu trúc là một cột có rồng
uốn khúc với miệng phun ra 6 chia chống đỡ Giảng Đài.Giáo Hữu là cấp đã chế ngự
được lục trần ( Sắc, thanh, hương , vị, xúc, pháp) và thông suốt giáo lý để làm
nhiệm vụ phổ tế.
Bát Quái Đài :Bát quái là tám quẻ
đơn tượng trưng cho muôn vật, là hệ thống ký hiệu đơn giản cho mọi hiện tượng
trong vũ trụ, thiên nhiên và đời sống con người, mà sáu mươibốn (8x8) quẻ kép
là sự triển khai bát quái lập thành hệ thống chi tiết hơn.
Lập Bát Quái Đài để thờ Thượng Đế là
thờ Đấng Tạo hoá đã tạo lập ra càn khôn vũ trụ.
Bát Quái Đài có 12 bậc, mỗi bậc cao
10cm với 8 cạnh, dưới to trên nhỏ theo hình tháp. Mười hai bậc tượng trưng cho
12 tầng Trời. Theo giáo lý Đạo Cao Đài thì Thượng Đế là ĐấngThập nhị Khai Thiên
(số 12 là số riêng của Trời). Bậc đầu tiên cao hơn mặt đất 2.4m và bậc trên
cùng cao hơn mặt đất là 3.6m (bội số của 12).
Quả Càn Khôn: có bề kính tâm 3.3m, màu
xanh da trời, cẩn 3072 ngôi sao (tinh tú) tượng trưng cho Tam Thiên thế giới và
Thất Thập Nhị Địa, trong đó địa cầu mà con người đang ở là địa cầu thứ 68. Trên
chòm sao Bắc Đẩu vẽ Thiên Nhãn. Ngọn đèn đặt tại tâm quả địa cầu tượng trưng
ngôi Thái Cực của Đức Chí Tôn.
Ý NGHĨA VIỆC THỜ THIÊN NHÃN:
Có thể tạm giải thích theo những ý sau
:
Thờ Thiên Nhãn là thờ cái Tâm của con người.
Tâm đây là lương tâm, chơn tâm, thiên tâm có sẵn trong chúng ta và giúp ta phân
biệt phải trái, biết nhơn nghĩa đạo đức. Tâm Thánh nhân giữ không để vật dục
chi phối. Tâm được trau giồi trong sáng sẽ có trực giác, giao tiếp được với cõi
Thiêng Liêng vì Trời, Người đồng một Lý.
Thờ Thiên Nhãn còn có ý nghĩa thờ khối Đại
Linh Quang mà con người là một Tiểu Linh quang. Chơn linh hay thường được gọi
là Linh hồn chính là khối ánh sáng bé nhỏ được chiết ra từ khối ánh sáng vĩ đại
của Thượng Đế. Đức Chí Tôn đã giải thích ý nghĩa việc thờ Thiên Nhãn như sau:
Nhãn thị chủ
tâm.
Lưỡng quang chủ
tể
Quang thị Thần.
Thần thị Thiên
Thiên giả ngã
giả
Ý nghĩa: Con mắt làm chủ cái Tâm. Hai
ánh sáng trong mắt là phần chủ tể. Ánh sáng ấy là Thần. Thần ấy là Trời. Trời
là Ta vậy.
Việc thờ Thiên Nhãn còn có ý nghĩa trong việc luyện Đạo vì Thần có hiệp
cùng Tinh, Khí thì mới có thể siêu phàm nhập Thánh. Người tu đoạt Pháp sẽ có
thêm con mắt thứ ba gọi là Huệ Nhãn, thấy được cõi vô hình. Mở Tam Kỳ Phổ Độ,
Đức Chí Tôn đã hứa sẽ ‘‘hườn nguyên chơn thần các con đắc đạo’’
Thờ Thiên Nhãn với con mắt mở tượng trưng Trời thấy và hiểu tất cả những
gì con người làm và nghĩ. Vẽ con mắt trái vì bên trái thuộc Dương. Trời Dương,
Đất Âm. Con mắt trái là hình thể hữu vi. Thiên Nhãn là cái lý màu nhiệm huyền
bí thuộc lãnh vực siêu hình, biểu tượng sự sáng suốt tột cùng bao trùm cả Càn
khôn vạn loại.
Đạo Cao Đài có tôn chỉ qui Tam Giáo,
hiệp Ngũ chi nên việc thờ Thiên Nhãn có tính đại đồng và chỉ thờ một con mắt vì
số một là số khởi thủy của các số: Đạo sanh nhất, nhất sanh nhị, nhị sanh tam,
tam sinh vạn vật. Thế nên, thần học Cao Đài là “nhất nguyên luận”.
Sau khi tham quan tìm hiểu một Đạo giáo
khá nổi tiếng của Việt Nam. Du khách lên
xe và di chuyển đến nhà hàng khách sạn Hòa Bình dùng cơm trưa. Sau khi xuống
núi vật vã và tham quan Tòa Thánh xong thì tôi cảm thấy mệt và đói, du khách
dùng buổi trưa ngay sau đó và nghỉ ngơi. Đúng 13h20 chúng tôi rời nhà hàng lên
xe để đến Địa Đạo Củ Chi. Xe chúng tôi chạy ra hướng đường Tôn Đức Thắng và đi
dọc theo quốc lộ 22B ngược ra ngã ba Gò Dầu.Sau đó quẹo trái chạy dọc theo quốc
lộ 22A đến ngã tư Trảng Bàng đi theo
tỉnh lộ 19 Nguyễn Văn Rốp qua ngã tư Hai Châu đến tỉnh lộ 787 .Khi xe chúng
tôivừa chạy ngang qua cầu kênh Đông ,rẽ trái ở tỉnh lộ 6 và đến với địa đạo Củ
Chi. Đến đây chúng tôi đợi thầy làm thủ tục và sau đó chúng tôi vào khuôn viên
địa đạo để xuống một căn nhà được đào sâu xuống khoảng 2,5m để xem băng hình và
nghe một nữ hướng dẫn riêng của địa đạo nói về những ngày đấu tranh cũng như
những ngày đầu địa đạo thật gian khổ.
Địa Đạo Củ Chi là khu di tích lịch sử
hào hùng của dân tộc với giá vé vào cổng tham quan là 20.000 nghìn 1 người và
40.000 nghìn1 người cho vé tham quan địa đạo và khu tái hiện chiến trường xưa.
Sau khi vào cổng hướng dẫn viên đưa du
khách theo một cán bộ để hướng dẫn du khách tham quan và thuyết minh tìm hiểu
về cuộc sống của nhân dân ta thời chiến đấu và xuống tầng hầm. Địa đạo gồm có 3 tầng : tầng
thứ nhất sâu khoảng 2 -3m, tầng thứ hai sâu khoảng 4-5m và tầng thứ ba sâu
khoảng 7 – 8m.
3. Địa Đạo Củ Chi
ĐỊA ĐẠO CỦ CHI – MỘT KỲ TÍCH ANH HÙNG
Nằm cách trung tâm Thành phố Hồ Chí
Minh khoảng 70 km về hướng Tây Bắc, Địa đạo Củ Chi là nơi thu nhỏ trận đồ biến
hóa và sáng tạo của quân và dân Củ Chi trong cuộc kháng chiến lâu dài, ác liệt
suốt 30 năm chống kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Với tầm vóc chiến công của mình, địa
đạo Củ Chi đã đi vào lịch sử đấu tranh anh hùng của nhân dân Việt Nam như một
huyền thoại của thế kỷ 20 và trở thành một địa danh nổi tiếng trên thế giới.
Đây là một kỳ quan đánh giặc độc đáo có một không hai với khoảng 250 km đường
hầm tỏa rộng như mạng nhện trong lòng đất, có các công trình liên hoàn với địa
đạo như: Chiến hào, ụ, ổ chiến đấu, hầm ăn,ngủ, hội họp, sinh hoạt, quân y, kho
cất dấu lương thực, giếng nước, bếp Hoàng Cầm …
Những sự tích có thật từ địa đạo đã
vượt quá sức tưởng tượng của con người. Chỉ cần chui xuống một đoạn đường hầm,
bạn sẽ hiểu vì sao nước Việt Nam nhỏ bé lại chiến thắng kẻ thù là một nước lớn
và giàu có bậc nhất thế giới. Vì sao Củ Chi, mảnh đất nghèo khó lại đương đầu
ròng rã suốt 21 năm với một đạo quân đông hơn gấp bội, thiện chiến, được trang
bị vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, tối tân. Trong cuộc đọ sức này,
quân và dân Củ Chi đã chiến thắng oanh liệt.
Dựa vào hệ thống đường ngầm, công sự,
chiến hào, chiến sĩ và nhân dân Củ Chi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, lập nên
những chiến công thần kỳ. Quân đội Mỹ lần đầu vào đất Củ Chi gặp phải sự kháng
cự quyết liệt từ các địa đạo trong vùng căn cứ hiểm yếu, đã phải thốt lên:
“Làng ngầm”, “Mật khu nguy hiểm”…

Củ Chi là một huyện ngoại thanh cách
giáp huyện Bến Cát Tỉnh Bình Dương. Tây Bắc giáp huyện Trảng Bàng Tây Ninh.
Hướng tây nam giáp huyện Đức Hoà Long An.Khi xuống hầm Địa Đạo trong đó chỉ
dành cho một người đi khom lưng hoặc bò. Cũng có nhiều đoạn rộng hơn với những
phòng dành cho sinh hoạt trong trường hợp phải chống cự với địch trong thời
gian lâu, trạm xá, nơi ở phòng sinh hoạt vănnghệ, mỗi đường hầm có lỗ thông
hơi, ống thoát nước, nắp đậy ngăn khí độc …. Khi cần có giếng nước của địa đạo
2,3 ổ sâu hơn, trong lòng đất có giếng nước của địa đạo sâu 15m để phục vụ ăn
uống. Hầm có 1 cấu trúc hình thành chử A có tác dụng chống sụp khi bom pháo nổ
gần và hầm nghỉ ngơi khi chưa chiến đấu. Hầm được nối liền với bếp nấu giấu
khói hay còn gọi là bếp hoàng cầm. Hoàng
Cầm là người sáng tạo ra bếp này trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Đặc biệt
của bếp này khi nấu ở đây, ta cho khói vào các trụ chứa khói và khi lên đến mặt
đất chỉ còn là hơi nước là đà như sương mỏng, máy bay và người không phát hiện.
Và có một câu nói rất nổi tiếng của người dân thuở xưa sống ở đây:” Đi không
dấu, nấu không khói, nói không to, ho không tiếng, giếng không mòn.”Hầm hội và
làm việc, hầm dự trữ lương thực và vũ khí để sử dụng lâu dài. Ấp chiến đấu thì
được liên quan với hào tiên mặt đất ấp chiến hào các phương. Một khi phát hiện
đối phương đến gần 20m thì ta mới nổ súng. Ấp chiến đấu nàychỉ bố trí 3-5 người.
Nhưng có thể tiêu diệt được hàng trăm đối phương trong mộttrận càn và các công
trình đường quanh đây bao giờ cũng gắn liền với hệ thống địađạo. Tại địa đạo có
các lỗ thông hơi do địa hình có nhiều mối nên lỗ thông hơi được ngụy trang giống
như ổ mối. Quân Mỹ dùng chó Bacgiê để đánh hơi, nếu chúng tôi phát hiện sẽ bơm
nước và chất độc để diệt quân ta, nhưng ta còn nhiều cách để lừa đàn chó, dùng
các chất gia vị cay như ớt, tiêu, quanh lỗ thông hơi dùng các quân trang quân
dụng của Mỹ như quần áo, xà phòng thuốc là … cắt nhuyễn rađỗ quanh lỗ thông hơi
làm đàn chó không phát hiện ra cứ 15-20m có một lỗ thônghơi.Khi xuống tầng thứ
nhất chúng tôi phải khom lưng, mọi thứ tối om vì dưới địa đạo cách một khoảng
xa mới có một bóng đèn rất nhỏ, đến đây thì đèn pin hay đèn flash điện thoại mang
theo đã phát huy được tác dụng của nó. Các bạn nối đuôi nhau lần lượt bước lên
khỏi địa đạo. Sau khi lên khỏi địa đạo bạn nào cũng ướt đẫm mồ hôi và tôi cũng
không ngoại lệ, tôi cảm thấy mình rất mệt nhưng tôi vẫn quyết định đi vàođịa
đạo kế tiếp. Địa Đạo này sâu hơn địa đạo trước nên cán bộ khuyên bạn nào có
bệnh về tim mạch thì không nên xuống. Cũng như tần thứ nhất tần thứ hai cũng
tốiom và có rất nhiều mùi hôi thoát ra từ lòng đất. Khi xuống dòng địa đạo tôi
nghe có nhiều bạn thét và kêu réo nhau.

Sau khi lên khỏi lòng địa đạo có bạn ra
mồ hôi như vừa được tấm, quần áo trở nên rất bẩn vì dính rất nhiều đất từ lòng
địa đạo. Chỉ có đi xuống lòng địa đạo thì mới biết được những vất vả của bột
đội tavà hiểu vì sao quân Mỹ không thểnào vào lòng địa đạo vì lòng địa đạo chỉ
vừa cho người việt nam đi ở trạng thái khom. Sau khi rời khỏi lòng địa đạo đoàn
chúng tôi tiếp tục rơi vào một nhà nơi mà chúng tôi được thưởng thức món khoai
mì đặc biệt của địa đạo, khoai mì chấmmuối mè.
Sau khi tham quan xong hướng dẫn đưa du
khách di chuyển đến Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược. Đền Bến Dược cũng là điểm
tham quan cuối cùng của chương trình tour ngày hôm nay.
Đền
tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược
Đền tưởng niệm liệt sĩ
Bến Dược, Củ Chi là một công trình tập hợp những đóng góp vật chất và trí tuệ của
đồng bào, của lãnh đạo Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các bậc
lão thành, trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân mỗi người đóng góp bằng sự nhiệt
tình của trái tim cháy bỏng, của đạo lý và trí tuệ trong sáng nhất để làm nên một
quần thể kiến trúc đậm đà bản sắc dân tộc.
Đền được xây dựng trên
một vùng đất 7ha, khởi công vào ngày 19/5/1993 nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ
103 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, người sáng lập Đảng
Cộng sản Việt Nam.
Ngày 19/12/1995, Đền tưởng
niệm khánh thành giai đoạn I và bắt đầu đón lớp lớp những đoàn người trong nước
và nước ngoài đến tưởng niệm, dâng hương và trầm ngâm về một lẽ sống còn đã làm
nên hồn thiêng dân tộc.
Đền tưởng niệm được những
nhà kiến trúc, những nhà xây dựng và những người tâm huyết tạo thành một quần
thể kiến trúc hài hòa, thoáng đãng mang bản sắc văn hóa Việt một cách tinh tế,
dịu dàng như tâm hồn dân tộc Việt. Đền Tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược gồm có các hạng
mục:
Cổng tam quan được kiến
trúc theo phong cách cổ truyền của dân tộc với các hàng cột tròn, trên lợp ngói
âm dương. Cổng có hoa văn, họa tiết, mái cong của những cổng đình làng nhưng được
cách tân bởi những vật liệu mới. Chính giữa cổng tam quan là biển đề “Đền Bến
Dược” và trên các thân cột là những câu đối của nhà thơ Bảo Định Giang:
“Trải
tấm lòng son vì đất nước
Đem
dòng máu đỏ giữ quê hương”.
“Lòng
biết công ơn nhang thơm một nén,
Đời
còn bóng dáng sao sáng ngàn năm”.
Nhà văn bia là một nhà
vuông có hai mái, lợp ngói, ở giữa đặt một tấm bia đá cao 3m, ngang 1,7m, dày
0,25m, nặng 3,7 tấn đặt giữa nhà văn bia, bài văn “ Đời đời ghi nhớ” được bày
trí tôn nghiêm, chính giữa là tượng Chủ Tịch Hồ Chí Minh, ba mặt xung quanh khắc
tên các anh hùng liệt sĩ trên đá hoa cương có tên 41447 liệt sĩ, tầng dưới
trưng bày những hiện vật hình ảnh mô hình với chủ đề “ Củ chi đất thép thần đồng”.
Ngày 19/12 hàng nămlà ngày tưởng niệm và tri ân các anh hùng liệt sĩ tại đền bến
dược. Tấm bia đá này được lấy từ khối đá nặng 18 tấn ở Ngũ Hành Sơn, thành phố
Đà Nẵng và được các nghệ nhân đẽo gọt, chạm khắc những hoa văn độc đáo của dân
tộc.