Sunday, September 18, 2016

Góc outbound .ĐÓN KHÁCH VÀ LÀM THỦ TỤC XUẤT NHẬP CẢNH

Chào các bạn đọc . Hôm nay mình xin được chia sẻ kiến thức về tour outbound cho các bạn chưa biết. 
Chúng ta , những người hướng dẫn viên là linh hồn của cả đoàn nên công tác chuẩn bị cho đoàn và cả cá nhân mình cũng là hết sức chu đáo và khoa học .Chúng ta kiểm tra những vật dụng cho tour đã đủ chưa .
-Chuẩn bị một cây cờ nhỏ có logo của công ty để hướng dẫn đoàn , nếu không có cờ thì công tác hướng dẫn của các bạn sẽ gặp nhiều khó khăn khi dẫn khách vào những điểm tham quan hay những nơi đông người như sân bay, ga tàu...
-Nón cho khách vì đi du lịch theo đoàn nên chúng ta phải phát nón cho khách để tiện việc kiểm tra và nhận diện đoàn.
-Hành lý của hướng dẫn viên nên dùng loại có bánh xe kéo có như vậy hướng dẫn viên sẽ đỡ mệt và còn thời gian lo cho đoàn của mình.
-Quần áo và trang sức phải thật phù hợp cho từng hoàn cảnh dừng gây ra tác dụng phản cảm , khi bạn nhắc khách như thế này bạn ăn mặc ngược lại .
-Mọi giấy tờ liên quan như passport , tờ khai hải quan, tờ khai sức khỏe , tài liệu tour , chương trình , danh sách khách ..... có trong túi hay ba lô chưa ?
-Bộ travel kit bao gồm những vật dụng cá nhân như bàn chải đánh răng , dầu gội ,tắm,dao cạo râu, các loại mỹ phẩm đã chuẩn bị và có trong hành lý chưa???
***
I. ĐÓN KHÁCH VÀ LÀM THỦ TỤC XUẤT NHẬP CẢNH BẰNG ĐƯỜNG HÀNG KHÔNG 
Đi du lịch bằng đường hàng không hiện nay là cách đi du lịch được nhiều người lựa chọn nhất ,đi nhiều nhất , nên bạn phải có nghiệp vụ tốt để giúp đỡ du khách.
1. Đón khách
-Đón khách có thể có hai cách : Đón tại cơ quan của bạn bằng xe di chuyển ra sân bay, hoặc đón tại sân bay .Dù đón bằng cách nào thì bạn cũng phải dặn dò khách thật kỹ những điều cần thiết khi đi máy bay
Nếu đón tại sân bay thì bạn phải có cờ và bảng đón khách , khi gặp được khách bạn phải phát nón cho khách để dễ nhận biết vì trong sân bay có rất nhiều người, bạn sẽ không thể biết khách của mình đến đủ chưa . Khi khách tập trung đủ bạn phải đếm số lượng và cùng phối hợp với trưởng đoàn để thu lịa passport nếu công ty chưa thu và thông báo cho khách biết về quy định hành lý gửi và hành lý xách tay như thế nào .
#Hành lý xách tay 
Phải có kích thước không vượt mức 56 x 36 x 23 cm.Cân hành lý xách tay được đặt tại các khu vực làm thủ tục và tại cửa ra máy bay để giúp bạn kiểm tra hành lý của mình  (Thường thì 5kg)
#Hành lý kí gửi .
Quy định vận chuyển tiêu thụ chuẩn hành lý miễn cước được chi rõ trên vé máy bay , hạng phổ thông được gửi 20 kg,nếu là hạng thương gia thì được 30kg .
2 Các thủ tục xuất nhập cảnh (Departure )
a.Check in và cân hành lý: Hướng dẫn viên dẫn khách vào khu vực quầy làm thủ tục , có thể khách tự check in hay bạn có thể giúp khách check in . Nếu các quầy còn trống thì bạn cho khách tự check in như vậy sẽ nhanh hơn.Nếu các quầy đông người thì bạn nên giúp khách , trình tự đều giống nhau .
-Hướng dẫn viên đem tất cả hộ chiếu của khách lại quầy làm thủ tục. Trong đoàn nếu có những người lớn tuổi , trẻ em , vợ chồng , bạn nhớ làm thủ tục cho gia đình họ rồi ngồi chung 
- Nhân viên làm thủ tục sẽ kiểm tra tình trạng vé và chuyến đi của đoàn có bị trục trặc gì không , rồi sau đó sẽ in cho chúng ta một tờ giấy , tờ đó gọi là thẻ lên máy bay.
-Hướng dẫn viên sẽ là người làm thủ tục đầu tiên để có thời gian giúp khách .
- Phát hộ chiếu cùng thẻ lên máy bay cho khách và mời khách nào có hộ chiếu cùng thẻ lên máy bay vào quấy làm thủ tục và cân hành lý. Cân hành lý xong nhân viên sẽ gửi lại cho khách thêm một tem nhỏ đó là tem lấy hành lý
b. Thủ tục hải quan
-Hướng dẫn viên dẫn khách đến khu vực làm thủ tục , yêu cầu khách cầm hộ chiếu cùng thẻ lên máy ba đứng xếp hàng theo đúng khu vực dành cho tất cả các loại passport .
3 Thủ tục nhập cảnh
- Sau một thời gian ngồi lên máy bay , bây giờ đoàn dã đặt chân đến nước bạn , nhưng trước tiên hãy giúp khách làm thủ tục nhập cảnh
-Hướng dẫn viên cầm cờ đi trước , đi theo hướng mũi tên có ghi chữ Immigration hoặc Arrival , đi đi một đoạn thấy nhà vệ sinh hướng dẫn viên vui lòng chờ đoàn , vừa kiểm tra số lượng khách vừa cho khách đi vệ sinh vì có những khách không quen sử dụng nhà vệ sinh của máy bay 
-Kiểm tra số lượng khách đã đủ chưa , phát tờ khai hải quan cho khách mà bạn đã khai trước cho khách kẹo vào hộ chiếu nếu trường hợp bạn không có tờ khai hải quan cho khách trước thì bạn hãy hướng dẫn khách tự khai lúc ngôi trên máy bay.

Friday, September 16, 2016

BÀI VIẾT VỀ TOUR CỦ CHI TÂY NINH CHO CÁC BẠN SINH VIÊN .



Chào các bạn , sau đây mình sẽ tổng hợp kiến thức về tour Củ Chi- Tây Ninh .

Trong bài có các điểm như :
+ Khu Di Tích Lịch Sử - Văn Hóa Núi Bà Đen.
+Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
+ Địa đạo Củ Chi.
+ Đền bến Dược. 
Rời khỏi khu công nghiệp Tân Bình không xa thì xe chúng tôi lại qua một  cây cầu được xem là ranh giới giữa quận Tân Bình và quận 12 đó là cầu Tham Lương. Cầu còn có tên gọi là cầu Tham Cấn bắt qua kênh Tham Lương trước thời Nguyễn. Tham Lương là con kênh đào ngắn hẹp. Đến năm 1771 kênh được đào rộng ra 10m sâu 3m dài 8Km. Năm 1782 diễn ra trận đánh giữa quân Tây Sơn và Nguyễn Anh. Đến năm 1945 Pháp cho xây dựng nhiều hệ thống đồn bót để kiểm soát. Tháng 12-1946 xảy ra trận đánh lớn giữa Việt Minh và Pháp diễn ra trong suốt 3 ngày và nơi đây có 1 nhạc sĩ đã sáng tác ra bài hát “Mặt trận Tham Lương”.
       Rời cầu Tham Lương tiếp tục theo đường Trường Chinh chúng tôi vào địa phận quận12, để đến với ngã tư An Sương. Đây là nơi giao nhau của xa lộ Đại Hàn với phần cuối của đường Trường Chinh và phần đầu của quốc lộ22A. Trên đường Trường Chinh nhìn bên tay phải là đường Nguyễn Văn Quá, thẳng đường Nguyễn Văn Quá là ngã tư Chợ Cầu, chạy lên khoảng một chút nhìn tay trái là ngã ba Phan Công Hớn hay còn được gọi là Phan Văn Hớn. Và bây giờ là 5h30’ xe chúng tôi có mặt tại ngã tư An Sương, km 00, chúng tôi vừa chạy qua giáo sứ Lạc Quang. Từ km 00, quẹo phải là Xa Lộ Đại Hàn. Xa Lộ Đại Hàn có tên gọi này là vào năm 1963 Mỹ đã bỏ tiền ra xây dựng nhưng giao công trình cho Hàn Quốc xây dựng và dân ta gọi là xa lộ Đại Hàn mang tên nước đã thi công con đường này. Xa lộ này dài 28km, mặt cán nhựa rộng 7m, bắt đầu từ ngã 3 An Lạc (huyện Bình Chánh) và kết thúc tại ngã ba trạm Hai (Thủ Đức), là đi các tỉnh miền Đông. Quẹo trái từ km 00 là hướng ngã ba An Lạc đi các tỉnh miền Tây.
Khi xe chúng tôi chạy qua trung tâm văn hóa quận 12 là bước qua ranh giới giữa quận 12 và huyện Hóc Môn. Thẳng vào bên trái đến ngã ba Nguyễn Thị Sóc. Là đền và mộ của Phan Công Hớn. Ông lãnh tụ cuộc khởi nghĩa chống Pháp có tên Mười Tám Thôn Vườn Trầu vào cuối năm 1884 tại Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh thuộc Việt Nam. Từ đầu đường Nguyễn Thị Sóc đến cuối đường là ngã ba Củ Cải nơi có nghĩa trang liệt sĩ 18 Thôn Vườn Trầu. Ngã ba Củ Cải nổi tiếng với xóm đạo mang tên Tha La, và tên này đã đi vào âm nhạc với bài hát “Tha La xóm đạo” dù bạn chưa tới đây nhưng đã từng có lần nghe bài hát này”đây Tha La, đây xóm đạo tiêu điều …. đây” và bài hát này đã nói lên việc chiến tranh đã làm cho xóm làng hoang tàn … rơi vào cảnh đau thương mất mát. Xe chúng ta vẫn tiếp tục chạy thẳng và vừa qua ngã ba Củ Cải là đến ngã tư Giếng Nước. Từ đây ta rẽ trái vào là đến 18 thôn Vườn Trầu tại đó vào thời Pháp tại địa phương này cuộc khỏi nghĩa cuả Phan Công Hớn (quê tại Bà Điểm) và Nguyễn Văn Hóa (quê Long An)lãnh đạo giết chết tên đô đốc Trần Tử Ca. Sau khi cuộc khởi nghĩa thất bại Nguyễn Văn Hoá bị chém đầu tại Hóc Môn và để đàn áp cuộc khởi nghiã này Pháp đã truy lùng những người khởi nghĩa,trong lúc truy lùng đã tìm ra Mười tám làng còn gọi là “Thập Bát Phù viên” và nơi đây trồng nhiều trầu.
Trầu    loại cây nông sản  quan  trọng  của  vùng xưa  kia những người dân
trong vùng được tụ tập lại rất đông và gánh cách gánh trầu đem bán tại chợ Bến
Nghé vào chợ Sài Gòn.Họ tụ tập đông như thế để tránh thú dữ vì vùng này nổi
tiếng là có rất nhiều thú dữ mà đặc biệt là cọp. Người ta thường nói “dữ như cọp vườn trầu”. nên gọi là 18 thôn vườn trầu.Và bây giờ là 5h40 xe chúng tôi đã đến ngã tư Hóc Môn, từ đây rẽ trái vào là ngã ba Giồng. Hóc Môn còn là nơi mở
đầu cho cuộc khởi nghĩa Nam Kì nổ ra 1940. giờ đây Hóc Môn vẫn còn những di tích ghi lại những giai đoạn lịch sử anh hùng của nhân dân Hóc Môn cùng nhândân Nam Bộ kiên cường chống thực dân pháp và đế quốc Mỹ để giành lại độc lập cho nhân dân như “Bia căm thù” ở Cầu Xáng, khu di tích ở khởi nghĩa Nam Kỳ ởNgã Ba Giồng. Trước mặt ta là cầu An Hạ là ranh giới giữa huyện Củ Chi và huyện Hóc Môn . Ta vừa chạy ngang qua bánh canh trảng bàng Phương Dung ở km 09. Qua cầu An Hạ ta đến với huyện Củ Chi là  nhắc  đến  một vùng  đất  anh hùng  với những con người anh  hùng đã làm nên những trang lịch sử chói lọi trong nhữngngày kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Những người dân bình dị trong cuộcsống cần cù trong lao động nhưng lại vô cùng sáng tạo trong chiến đấu. Sự sángtạo ấy được thể hiện cụ thể qua mô hình địa đạo mà các nhà kiến trúc đánh giá làđộc nhất vô nhị trong chiến đấu. Vùng đất được xem là “Ngọn cờ đầu của chiếntranh du kích và được mệnh danh là “Đất thép thành đồng” đã có 6 xã được tuyêndanh anh hùng. Trên đầu ta là đường dây cao thế Bắc Nam 500Kv. Tải điện từ nhà máy thủy điện Hoà Bình vào đây và truyền tải cho các tỉnh lận cận khác. Xe vẫn tiếp tục chạy thẳng trên quốc lộ 22A. Và đến ngã ba Hương Lộ 2.
       Nếu chạy theo hướng ngã ba Hương Lộ 2 thì sẽ đến tỉnh lộ 8, nơi căn cứ Đồng Dù xưa. Tay phải chúng tôi là Củ Chi “Đất thép thành đồng” . Nơi  đây  đã    16  anh  hùng  lực  lượng    trang    778  dũng  sĩ. Nằm sát cạnh Sài Gòn, trung tâm đầu não của chính quyền Mỹ nguỵ nhưng Củ Chi đã trở thành căn cứ địa vững chắc, là chỗ đứng chân an toàn cho các đồng chí lãnh đạo cũng như các lực lượng vũ trang kháng chiến. Với thành tích kiên cường đứng vững trước sự đánh phá của kẻ thù và có những đóng góp to lớn vào cuộc kháng chiến chống  Mỹ.
     Ngày nay đến với Củ Chi ta có thể thấy vùng đất này được phủ đầy bởi màu xanh của đồng ruộng, màu  xanh của những vườn cây ăn trái mà  màu  xanh của nhữngvườn cao su bạc ngàn, và kế bên là giáo xứ Củ Chi . Giờ là 6h, xe chúng tôi đang chạy dưới chân cầu vượt Củ Chi. Đi thẳng hướng tay phải tỉnh lộ 8 là về Bình Dương, hướng tay trái là đi Long An. Xe của chúng tôi vẫn chạy thẳng trên quốc lộ 22A qua cầu vượt Củ Chi là đến với chợ Củ Chi nằm bên tay trái và đối diện là bến xe Củ Chi nằm bên tay phải. Cùng chiều với bến xe Củ Chi là Khu Công Nghiệp Tây Bắc Củ Chi. Ta sắp đến ngã ba Nguyễn Thị Rành. Bà cư ngụ tại ấp Trúc Đèn, xã Phước Hiệp, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, bà được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 1978. Bà có 8 con trai và 2 cháu nội là liệt sĩ và đã được Chủ tịch nước và Quốc hội tuyên xưng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam anh hùng năm 1994. Trong kháng chiến chống Mỹ, bà là cơ sở bí mật của cách mạng, là dân quân của xã, bám trụ ở Củ Chi. Bà đã đào hầm nuôi giấu hàng trăm cán bộ, cất giấu vũ khí, tiếp tế cho du kích, động viên con cháu vào bộ đội, tham gia đấu tranh chính trị trực diện với quân địch. Sau đó, bà bị bắt và bị tra tấn dã man, nhưng bà vẫn không chịu tiết lộ điều gì, bà mất năm 1979. Ngay sau khi qua đời, bà được dựng tượng trước Bảo Tàng Phụ Nữ Nam Bộ. Tên của bà cũng được đặt cho một trạm y tế tại huyện Củ Chi. Quẹo phải đường Nguyễn Thị Rành là ta đến với Địa Đạo Củ Chi. Xe chúng tôi vẫn tiếp tục chạy trên quốc lộ 22A. bên trái là chợ Phước Thạnh. Trước mặt chúng tôi là ngã tư Phước Thạnh giao với tỉnh lộ 7, qua tỉnh lộ 7 là đến tỉnh lộ 6 của quốc lộ 22A. Đến km30 tại trạm xăng dầu Suối Sâu. Đây là ranh giới giữa địa phận Tp Hồ Chí Minh và Tây Ninh.
     Bên trái chúng tôi giờ đây là khu Công Nghiệp Trảng Bàng. Đối diện là nhà hàng bánh canh Hoàng Minh 2 tại km34. 6h10’ chúng tôi xuống xe ăn sáng tại đó.
Tại đây tôi được thưởng thức món bánh canh khác lạ, bằng những sợi bánh canh làm từ bột gạo kết hợp với những hương vị đặc biệt, những sợi rau sống xanh  tươi đã tạo ra tô bánh canh thật đơn giản nhưng cũng thật bắt mắt và ngon miệng. Sau khithưởng thức món bánh canh nơi đây tôi đã tìm được lí do vì sao mọi người  thường nhắc đến món bánh canh Trảng Bàng và vì sao mọi người chọn Trảng Bàng là nơi dừng chân để ăn sáng cho các tour du lịch từ TP. Hồ Chí Minh đến Tây Ninh – Củ Chi. Sau khi ăn sáng xong khoảng 7 giờ chúng tôi lên xe và đi thẳng trên quốc lộ 22A, đến ngã ba Trảng Bàng chúng tôi rẽ phai theo quộc lộ 22 để đến với trung tâm của huyện Trảng Bàng. Trước mắt chúng tôi là ngã tư Trảng Bàng, quẹo phải là đường Nguyễn Văn Rốp .Ông là đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X. Thuộc đoàn đại biểu Tây Ninh. Thuộc tỉnh lộ 19 để về hướng ngã tư Hai Châu. Đi ngang qua nhà hàng Năm Dung, Út Huệ. Đây là 2 quán bánh canh nổi tiếng lâu đời nhất Tây Ninh. Từ ngã ba Trảng Bàng ta cũng có thể đi đường Bời Lời tỉnh lộ 782 đến ngã tư Hai Châu.
      Xe chúng tôi tiếp tục lăn bánh trên tỉnh lộ 782 đường Bời Lời và qua huyện Trảng Bàng để đến với huyện Gò Dầu của tỉnh Tây Ninh. Bên trái chúng tôi bây giờ là chợ Bàu Đồn. Qua chợ Bàu Đồn là đến ranh giới của huyện Dương Minh Châu và huyện Gò Dầu của tỉnh Tây Ninh và bắt đầu bước vào tỉnh lộ 784. Bên trái là thị xã Tây Ninh, trước mặt là cầu K13, chạy qua cầu K13 nhìn bên phải là hồ Dầu Tiếng. Cách thị xã Tây Ninh 20km Hồ có diện tích 27.000ha, có sức chứa 1.5tỷ m3 nước tưới cho đồng ruộng của tỉnh và các tỉnh lận cận. Hồ Dầu Tiếng là công trình thủy lợi lớn nhất nước ta, hồ được ngăn bởi con sông lớn đó là sông Sài Gòn. Năm 1980 Uy Ban nhân dân tỉnh tây Ninh kết hợp với bộ thủy lợi tiến hành khảo sát ngăn sông Sài Gòn đắp đập Dầu Tiếng. Vì do điều kiện tưới tiêu để sản xuất và tăng năng suất cho tỉnh. Hồ Dầu Tiếng được khởi công xây dựng ngày 19-04-1981 và hoàn thành vào tháng 10-01-1985. Tổng kinh phí là 1000 tỉ đồng , hồ phục vụ tưới tiêu cho 172.000ha đất trồng.
      Lúc này thì núi Bà Đen dần dần ló dạng trước mắt quý khách. Hướng dẫn viên giới thiệu thì nhìntừ xa núi Bà Đen trông như chiếc nón lá nằm trên một cánh đồng được trải thảm  xanh. Trước mặt xe chúng tôi là ngã tư Núi Bà, rẽ phải tại ngã tư Núi Bà là đi vào tỉnh lộ 790 đến với Khu Di Tích Lịch Sử - Văn Hóa Núi Bà Đen. Bây giờ là 8h20, chúng tôi đã đến Khu Di Tích Lịch Sử - Văn Hóa Núi Bà Đen. Theo sự hướng dẫn của hướng dẫn viên, quý khách di chuyển vào cổng. Có hai phương tiện để di chuyển lên Núi Bà là cáp treo và máng trượt hiện nay Khu Di Tích Lịch Sử - Văn Hóa Núi Bà Đen vừa lắp đặt hệ thống cáp treo mới hiện đại hơn có thể chứa được đến 8 người thay vì cáp treo củ chỉ đi được 2 người. Chúng tôi theo sự hướng dẫn cùa thầy đến khu vực cáp treo mới  để bắt đầu di chuyển lên núi bằng cáp với giá cáp treo 1 người là 80.000 nghìn.
   Khi lên trên cao thì mọi thứ ở dưới tôi đều trở nên nhỏ bé. Từ độ cao của cáp treo  nhìn về phía bên phải ở phía xa tôi có thể nhìn thấy hình ảnh của Hồ Dầu Tiếng.  Sau khi được thưởng thức cáp treo và các cảnh vật xung quanh thì chúng tôi cũng  đã tới đỉnh và chúng tôi bước ra cabin  tiếp bước lên những bậc  thang để  đến  chùa Bà (Thay vì hay gọi là Linh SơnThánh Mẫu) tiếp theo chúng tôi được tham quan chùa Hang, chùa Phật ….. Ngoài ra ở trên đó còn có các hang động như là:Hang Gió, động Huyền Môn, động Kim Quang..Ngoài  chức  năng    những  hang  động  nơi  đây  xưa  kia  còn    căn  cứ cách mạng của quân ta.

1.   Khu Di Tích Lịch Sử - Văn Hóa Núi Bà Đen.
Khi đến với núi du khách sẽ được tìm hiểu về sự tích núi Bà Đen và vì sao nơi đây lại thu hút được rất nhiều người đến đây tham quan và hành hương .Nơi tỉnh Tây Ninh có một ngọn núi cao nhất miền Nam Việt Nam với độ cao 986m được gọi là núi Ðiện Bà, tục gọi là núi Bà Ðen, vì trên núi có lập một cái Ðiện để thờ Bà Ðen. Bà Ðen rất linh hiển nên được vua Gia Long truyền cho đúc cốt Bà bằng đồng đen và sắc phong là Linh Sơn Thánh Mẫu.
SỰ TÍCH BÀ ÐEN:
Có hai truyền thuyết về sự tích Bà Ðen:
- Bà Đen là nàng Đênh , người Cao Miên
- Bà Đen là Lý Thị Thiên Hương Người Việt Nam. Lễ Vía Linh Sơn Thánh Mẫu được tổ chức hằng năm tại Ðiện Bà vào dịp đầu Xuân, từ ngày mùng 10 đến 15 tháng Giêng âm lịch, có hằng trăm ngàn người đến cúngvái cầu xin sự phò hộ của Bà để việc kinh doanh và việc gia đình được may mắn tốt đẹp.
   Núi Bà Đen  - một quần thể di tích lịch sử - văn hóa và danh thắng. từ lâu vốn là biểu tượng về đất và người của quê hương tây Ninh. Người Việt đến vùng đất Tây Ninh xưa khai mở đất đai, sinh cơ lập nghiêp, thì các tăng ni phật tử cũng đồng thời đến đây xây dựng am, miếu, chùa chiềng thờ phật.Trong đó, hệ thống am, điện, chùa, hang đông ở Núi Bà Đen đã từ lâu thu hút đông đảo khách thập phương đến viếng lễ hằng năm.
     Truyền thuyết về Bà Đen. Linh Sơn Thánh Mẫu, với hệ thống chùa, điện, hang động…cùng với nhiều sự tích trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm đã tô đậm các sự kiện lịch sử trên Núi Bà Đen. Với cảnh quang hùng vĩ của núi đã tạo nên Khu Di Tích Lịch Sử - Văn Hóa nổi tiếng ở Nam Bộ và cả nước. con đường từ chân núi đến chùa Bà, chùa Hang được nâng cấp mở rộng, cùng với hệ thống nhà trạm dừng chân cho khách hành hương. Khi nói đến núi Bà Đen người ta nghĩ ngay đến Điện Bà hay Linh Sơn Tiên Thạch Tự. Điện Bà ở độ cao 350m, khu vực này có chùa Thượng (chùa Bà) và chùa Hang và hiện nay còn có Phật Nhập Thiết Bàn tượng Phật nằm lớn nhất miền Nam.
Điện Bà được cải tạo từ một mái đá tự nhiên nhô ra tạo thành một hang động. Vòm mái cao 2,5m; cửa rộng 6m. Hai bên được xây gạch ốp sát vách đá. Ở giữa có xây cột gạch chống đỡ, vòm mái trước xây thêm tạo thành 2 lớp nhà điện dài 8m dùng để nơi phật tử chiêm bái và hành lễ. Trong động thờ cốt Bà (tượng Bà) và các tiên nữ.
     Tháng giêng hàng năm thiện nam, tính nữ thập phương về lễ viếng Bà cầu tài, xin lộc. Đặc biệt, ngày mùng 5 tháng giêng hàng năm, ngày vía Bà có hàng chục vạn lượt người đến viếng lễ. Suốt trong năm mỗi ngày đều có người hành hương về núi viếng Bà.
Bên trong Điện Bà thờ chính là Bà Lý Thị Thiên Hương và tứ thiên vương Ma Lễ Hồng, Ma Lễ Thanh, Ma Lễ Hải, Ma Lễ Thọ.
Linh Sơn Tiên Thạch Tự thờ Phật Thích Ca ở chính điện 2
   Toàn bộ quần thể núi Bà rải rác có nhiều chùa, nhưng chỉ có ngôi chùa chính có quy mô lớn. Ngoài chùa Thượng (chùa Bà) còn có chùa Hạ, chùa Trung. Những ngôi chùa này đã được xây dựng từ lâu đời, nhưng qua các cuộc chiến tranh ác liệt, bom đạn tàn phá nên đổ nát. Những ngôi chùa hiện nay được xây dựng lại từ các năm 1995, 1997.
    Từ năm 1956, lập ra Hội núi Điện Bà do bác sĩ Nguyễn Văn Thọ giữ chức danh Hội trưởng.
    Từ năm 1983, tỉnh Tây Ninh thành lập Ban Tổ chức Hội xuân Núi Bà hàng năm và Ban Quản lý di tích lịch sử văn hóa núi Bà Đen.
      Cấu tạo địa chất bởi nhiều tầng đá tảng chồng lên nhau tạo ra nhiều hang động tự nhiên và một thảm động, thực vật phong phú đa dạng về sinh thái. Với đỉnh núi cao nhất Nam bộ, núi Bà Đen trở thành một vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng, nên trong suốt 2 cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc (1946 - 1975), lực lượng cách mạng và phản cách mạng đã giành giật nhau quyết liệt quả núi này.
    Tháng 6/1946 lực lượng kháng chiến rút lên núi, thực dân Pháp đưa quân lên bao vây, cuộc chiến đấu tại dốc thượng làm tiêu hao nhiều binh lực Pháp. Chùa Trung đã từng làm nơi hội nghị của Chủ tịch Ủy ban Hành chánh kháng chiến các xã để trường kỳ kháng chiến. Suốt 15 năm kháng chiến chống Mỹ (1960 - 1975) nhiều đơn vị của cách mạng bám giữ núi Bà Đen. Đã có 7 lần tấn công căn cứ truyền tin của quân Mỹ trên đỉnh núi. Các căn cứ Huyện ủy Tòa Thánh. Dương Minh Châu, Liên đội 7 và nhiều đơn vị chủ lực đã bám núi đánh giặc – đến ngày 6/1/1975 toàn bộ núi Bà Đen được hoàn toàn giải phóng.
Sau khi du khách nghe hướng dẫn thuyết minh và tham quan về núi Bà Đen, và sau đó theo sự chỉ dẫn của hướng dẫn viên du khách đi bộ xuống núi. Dọc hai bên lối đi có rất nhiều quầy hàng quà lưu niệm, kem và nước uống. Giá cả ở đây thay đổi theo độ cao của từng quầy. Cuối cùng du khách cũng xuống tới núi và tập hợp ra xe để di chuyển đến Tòa Thánh Tây Ninh. Xe lăn bánh ngược ra ngã tư Núi Bà chạy trên tỉnh lộ 790 qua cầu K18, quẹo trái ở Điện Biên Phủ và tiếp tục quẹo phải ở Cách Mạng Tháng Tám. Cuối đường là vòng xoay ngã tư, xe chúng tôi ôm vòng xoay theo hướng đường Lý Thường Kiệt để vào Tòa Thánh. Tòa Thánh có 12 cổng và xe chúng tôi dừng ở cổng số 4.
     11h25 xe dừng ở cổng và chúng tôi đi bộ vào trong khu vực Tòa Thánh. Đến đây hướng dẫn viên thuyết minh cho du khách nghe về Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
2.   Tòa Thánh Cao Đài Tây Ninh.
     Tây Ninh, nơi đã chắc lọc tinh hoa của ba tôn giáo lớn: Phật, Lão, Nho hiện còn lưu giữ những giá trị truyền thống, sự kết hợp của ba dòng tôn giáo nên được gọi là: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Tòa thánh Cao Đài nằm trong khu vực ngoại ô của thị xã Tây Ninh, do Hòa Thượng Như Nhãn xây dựng từ năm 1926, lấy Tây Ninh làm nơi để khai sinh, một vùng đất vốn còn nhiều khó khăn nhưng sự ra đời của tòa thánh đã thu hút hàng vạn tín đồ tham dự. Tây Ninh, nơi đã chắc lọc tinh hoa của ba tôn giáo lớn: Phật, Lão, Nho hiện còn lưu giữ những giá trị truyền thống, sự kết hợp của ba dòng tôn giáo nên được gọi là: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
       Tòa thánh ra đời vào năm 1926, khởi đầu khai sinh gặp nhiều khó khăn bởi núi non và rừng rậm, vùng đất đầu tiên đặt nền móng tại chùa Gò Kén, sự ra đời của tòa thánh đánh dấu bước quan trọng của một nền tản tôn giáo Đạo Cao Đài. Lúc ấy đạo ra đời thu hút hàng vạn tín đồ tham gia như từ các tỉnh miền tây và Sài Gòn.
      Toà Thánh Cao Đài Tây Ninh cách Thị xã Tây Ninh độ 5km, cách Núi Bà Đen độ 8km và cáchThành Phố Hồ Chí Minh 100km.
Từ Chánh môn đến Đền Thánh, trước tiên ta thấy có ba bảo tháp để chứa nhục thể của Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm và Đức Thượng Sanh. Các Tháp được xây đắp, chạm trổ nhiều hoạ tiết tinh vi và có hình Bát quái.
      Qua khỏi các tháp là sân Đại Đồng Xã có tượng Thái tử Siddharta cưỡi ngựa tìm Đạo, theo sau là Channa, người hầu cận. Kế đến là Cửu Trùng Thiên, hình bát quái có 9 bậc và được sơn ba màu vàng, xanh, đỏ. Gần đó là cây bồ đề cổ thụ do Đại Đức Thera Narada tặng cây con lấy từ Bồ đề đạo tràng bên Ấn độ (1953). Chính nơi Bồ Đề đạo tràng, Thái tử Siddharta đã tham thiền nhập định và trở thành Đấng Giác Ngộ, Đức Phật Thích Ca.
Hai bên Đại đồng xã có hai khán đài với 2 con đường dẫn đến Đền Thánh. Cách cội bồ đề vài thước có cột phướn với lá phướn phất phới bay trong gió. Cột phướn cao độ 18m, lá phướn dài 12m và rộng 1,2m. Phía trên màu vàng thêu hai con rồng chầu mặt trời. Thân phướn có ba sọc vàng, xanh, đỏ. Ở giữa vùng xanh có hình Thiên Nhãn, Cổ Pháp Tam giáo và sáu chữ ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ bằng Hán tự. Sân gạch có cột phướn và cây Bồ đề được gọi là Đại Đồng Xã. Cái tên nói lên tính nhân bản chia xẻ cùng nhau, và tinh thần đại đồng để có thể chung sống hòa bình.
      Tín đồ Cao Đài rất hãnh diện có được Ngôi Tòa Thánh đồ sộ, nguy nga, tráng lệ do Thiên Ý hợp cùng Nhơn lực tạo nên, tiêu biểu cho nền Đại Đạo với tôn chỉ: Quy nguyên tam giáo, phục nhứt ngũ chi.
Kích thước của Tòa Thánh:
Theo qui định thiết kế nền cao 1.8 m, rộng 27m, dài 135mHiệp Thiên Đài dài 27m, có lầu chuông, và lầu trống cao 36m, Cửu Trùng Đài dài 81m, có tháp tròn ở giữa gọi là Nghinh Phong Đài cao 25m, Bát Quái Đài dài 27m. tháp cao 30m.
Theo thực tế vì tín đồ lúc đó còn nghèo, Hội Thánh gặp khó khăn về tiền bạc nên khi thi công đã thu bớt lại kích thước trên. Số đo thực tế chỉ còn có: chiều rộng 22m, dài 97.5m, trong đó: Hiệp Thiên Đài dài 13, Cửu Trùng Đài dài 63m,Bát Quái Đài dài 21m.
BÊN TRONG ĐỀN THÁNH
       Hiệp Thiên Đài: Từ Tịnh Tâm Điện có hai cửa đi vào bên trong Đền Thánh. Bên trong được chia thành ba gian. Ở giữa là chánh điện, bên phải dành cho Nam phái quỳ hành lễ, bên trái dành cho Nữ phái.
Quay lại nhìn vào mặt sau bức tường có hình Tam Thánh, ta thấy :
Tượng Đức Hộ Pháp ở giữa, mặc đại phục, đứng trên tòa sen, đặt trên bực cao hơn hết, dưới có 7 đầu rắn, tay mặt cầm Kim Tiên.
 Tượng của Đức Thựơng Phẩm Cao Quỳnh Cư bên tay mặt Đức Hộ Pháp, đứng trên tòa sen trước cây Phướn Thượng Phẩm, mặc đại phục, tay mặt cầm Long Tu Phiến có gắn Phất chủ, tay trái cầm xâu chuỗi Từ Bi.
         Tượng của Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang bên trái Đức Hộ Pháp, đứng trên tòa sen trước cây Phướn Thượng Sanh, mặc đại phục, tay mặt cầm Phất chủ, tay trái cầm xâu chuỗi từ bi, sau lưng giắt Thư Hùng Kiếm. 
Đức Hộ Pháp đạp lên hai đầu rắn có chữ Nộ (hờn giận), Ai (buồn) và hai tay kềm hai đầu rắn có chữ Ố (oán ghét), Dục (ham muốn) tượng trưng cho 4 tính xấu cần chế ngự, và 3 đầu hướng lên tức 3 tính tốt cần nuôi dưỡng là: Hỉ (vui mừng), Ái (thương xót), Lạc (vui vẻ).
Đầu rắn quấn vào đôn Đức Hộ Pháp, phần giữa quấn vào đôn Đức Thượng Phẩm, và đuôi rắn quấn vào đôn của đức Thượng Sanh. Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc là vị đứng đầu chi Pháp.Đức Thượng Phẩm Cao Quỳnh Cư đứng đầu chi Đạo. Đức Thượng Sanh Cao Hoài Sang đứng đầu chi Thế.Trên vách tường sau ngai Đức Hộ Pháp có tạc một chữ KHÍ với ý nghĩa thờ khí sanh quang. Chữ KHÍ là nguồn cội của Pháp đã biến sanh ra vạn vật. Toàn bộ Pháp giới điều khiển Càn khôn Vũ trụ đều do nơi chữ KHÍ mà sanh sanh hóa hóa. Hai bên chữ KHÍ có đôi liễn:
PHẠM GIÁO TÙY NGƯƠN, CỨU THẾ ĐỘ NHƠN HÀNH CHÁNH PHÁP.
MÔN QUYỀN ĐỊNH HỘI, TRỪ TÀ DIỆT MỊ HỘ CHƠN TRUYỀN.
Ý nghĩa:
Phật dạy tùy thời mà cứu độ người đời, thi hành chánh pháp
Quyền lực nơi cửa Đạo định ra thời kỳ diệt tà mị, bảo hộ chơn truyền.
Hiệp Thiên Đài là cơ quan có nhiệm vụ thông công giúp con người liên hệ học hỏi với các Đấng thiêng liêng. Hiệp Thiên Đài là cơ quan Đạo Pháp, là cầu nối giữa thế gian (Cửu Trùng Đài) với Thần, Thánh, Tiên, Phật (Bát Quái Đài).
 Cửu Trùng Đài:Bên trong Đền Thánh có 28 cột rồng tượng trưng cho Nhị Thập Bát Tú giáng trần giáo đạo đứng chầu Thượng Đế. Các cột rồng sơn màu xanh, đỏ, trắng là để tượng trưng cho ba kỳ phổ độ.
 Nhất kỳ phổ độ có Thanh Dương Đại Hội để phán đoán đức hạnh và công quả tu hành của nhân sanh do Đức Phật Nhiên Đăng chưởng pháp.
 Nhị kỳ phổ độ có Hồng Dương Đại Hội do Đức Phật Di Đà điều khiển.
 - Tam Kỳ Phổ Độ có Bạch Dương Đại Hội do Đức Di Lặc chưởng quản.
Do đó, các rồng trắng dưới quả Càn Khôn cho biết đã đến thời kỳ Bạch Dương và cột rồng vàng (Huỳnh long) tượng trưng các vị Phật đến dự Đại Hội Long Hoa.Cửu Trùng Đài là phần giữa, nối liền Hiệp Thiên Đài và Bát Quái Đài.Hai bên vách Đền Thánh tạc hình hoa sen, gương sen và ngó sen trong khung hình chữ nhựt đứng, ở giữa có khung tam giác tạcThiên Nhãn phản chiếu các tia rẽ quạt rất sinh động. Khung hình này mang  nhiều ý nghĩa mầu nhiệm.
Thiên Nhãn tượng trưng cho Thái cực.
Hình tam giác tượng trưng cho Tam giáo đồng nguyên.
Bụi sen trên, bụi sen dưới tượng trưng Âm Dương tức Lưỡng Nghi
4 trái sen hai bên tượng trưng Tứ Tượng
8 lá sen tượng trưng Bát Quái
12 ngó sen tượng trưng Thập nhị Khai Thiên.
Cây Sen tượng trưng cho đời sống con người và cũng tượng trưng cho đời sống của Đại vũ trụ. Triết lý huyền bí dạy các yếu tố của cả hai đều giống nhau và đều phát triển theo cùng một hướng. Rễ sen chìm trong bùn, tượng trưng đời sống vật chất; thân đi xuyên qua nước, tượng trưng cho đời sống cõi cảm dục, còn hoa nổi trên nước và mở ra với bầu trời, tượng trưng cho đời sống tinh thần.
Phần tiếp giáp với Bát Quái Đài có đặt bảy cái ngai sơn son thếp vàng chạm trổ tinh vi, được đặt theo thứ tự:
Một ngai Giáo Tông chạm rồng, Ba ngai Chưởng Pháp chạm phượng,Ba ngai Đầu Sư chạm lân, Bảy chiếc ngai bị chắn bởi bức bình phong chạm rồng mạ vàng rất linh động. Hai bên ngai thiết trí hai hàng lổ bộ bửu pháp của Bát Tiên.
Bậc tiếp giáp với Cửu Trùng Đài được gọi là Cung Đạo. Trên nóc Cung Đạo đúc vòm Trời và một hình bầu dục mây trắng chung quanh những tia hào quang dài (12) xen kẻ với những tia hào quang ngắn (24). Bên trong có chạm hình Thiên Nhãn, một người nam tượng trưng cho nhân lọai, Đại ngọc cơ, Tiểu ngọc cơ với bảng mẫu tự A,B,C..., một cái bàn ba chân dùng xây bàn, một ống xăm; tất cả là những phương tiện thông công giữa người và cõi vô hình. Trong kỳ lập Đạo lần này, Đức Thượng Đế đã dùng Cơ bút để dạy Đạo ở buổi đầu.
 Mặt trước và phía trên Cung Đạo có đúc bức hoành hình chữ M, tạc tượng các Giáo chủ của Tam giáo, Tam Trấn và Ngũ chi Đại Đạo.
Hàng trên là ba vị Giáo chủ : Lão Tử, Thích Ca, Khổng Tử .
 Hàng giữa là ba vị Tam Trấn : Quan Âm, Lý Bạch, Quan Thánh. Ba vị này tượng trưng cho ba tánh BI, TRÍ, DŨNG của Tam Giáo
Hàng dưới Lý Bạch là Jésus Christ và Khương Thượng.
Khi xếp một vị ở dưới một vị khác, không có ý nghĩa cao thấp. Nếu kể từ Đức Thích Ca xuống thì đại diện Ngũ Chi Đại Đạo là: Phật đạo (Thích Ca), Tiên đạo (Lý Bạch), Thánh đạo (Jésus Christ), Thần đạo (Khương Thái Công), Nhơn đạo (Giáo Tông),Bức hoành bên tả thờ Bát Tiên,Bức hoành bên hữu thờ Thất Thánh.
Phần sau của Bát Quái Đài là nơi đặt quả Càn Khôn. Phần này nằm về hướng Đông của Đền Thánh. Càn Khôn là hai quẻ trong Kinh Dịch, tượng trưng cho Trời và Đất. Quả Càn Khôn tượng trưng vũ trụ của Đấng Ngọc Hoàng.
Trước quả Càn Khôn  là bàn thờ . Trên Thiên bàn có đủ 12 phẩm vật:
 Thiên Nhãn (mắt trái) 1 Thái Cực Đăng (ngọn đèn luôn luôn cháy tượng trưng cho linh hồn vũ trụ)
 Hai cây đèn ở hai bên tượng trưng cho lưỡng nghi (âm - dương),1 bình hoa (tượng trưng cho TINH) và 1 dĩa trái cây, 3 ly rượu (tượng trưng cho KHÍ), 1 tách trà (tượng trưng cho THẦN) và 1 tách nước lạnh (nước Âm Dương), 1 lư hương
BÊN NGOÀI TÒA THÁNH
Mỗi bên hông Đền Thánh có 6 cửa ra vào. Các bậc lên xây dựng như bậc thang mà hai bên có tượng Kim Mao Hẩu.
Nóc của Cửu Trùng Đài lợp ngói đỏ, có Nghinh Phong Đài. Đài cao 17m, phần dưới hình vuông, phần trên hình vòm cầu trông giống kiến trúc của các nhà thờ Hồi giáo. Trên quả địa cầu có tượng Long Mã mang Hà Đồ chạy về hướng Tây, quay đầu về hướng Đông. Bởi lẽ Á châu là nơi phát sinh của nhiều tôn giáo “Đạo phát ư Đông, di ư Tây, phản hồi ư Đông
Dưới mái hiên Đài trang trí các dây trái nho. Trên dây nho có vẽ đôi chim hạc bay trên biển vào lúc rạng Đông. Đức Jesus đã giảng: “ Ta là cây nho, các con là cành.”. Ngài ban phát sự sống và sức sanh sản cho các cành là chúng ta. Cây và trái nho tượng trưng Hình Thể, nước nho tượng trưng Chơn Thần, và rượu nho tượng trưng Linh Hồn
Nóc Bát Quái Đài cao 30m, lợp ngói màu vàng, trên đỉnh đúc tượng Tam Thế Phật
Phật Brahma mặt nhìn về hướng Tây, đứng trên lưng con Thiên Nga, tay mặt bắt ấn, tay trái cầm bửu châu. Phật Chrisna (Krisna), một hóa thân của Phật Vishnu mặt nhìn về hướng Nam, đứng trên con Giao Long, một tay chống nạnh và một tay chống bửu kiếm.Phật  Civa (Siva) mặt nhìn về hướng Bắc, đứng trên Thất đầu xà và đang thổi sáo.
Tam Thế Phật tượng trưng ba ngôi của Thượng Đế: sáng tạo, bảo tồn và hủy diệt. Đó là cơ tuần hoàn của vũ trụ theo lẽ biến dịch. Theo Đạo Cao Đài, nhân loại  đang ở vào Hạ ngưng tâm chuyển, thời mạt pháp. Đạo Cao Đài được sáng lập nhằm mục đích giác ngộ loài người hướng thiện, mở một kỷ nguyên hòa đồng, hiệp đồng và đại đồng. Thánh giáo gọi đó là trở về đời Thượng nguơn Thánh Đức.
Sau lưng Đền Thánh có dãy nhà mà từ trên cao ta thấy chúng hợp với Đền Thánh thành chữ SƠN theo Hán tự. Bên ngoài Đền Thánh nhìn lên Nghinh Phong Đài có hình vòm cong, thường thấy trong kiến trúc của các nhà thờ Ấn Độ và Trung Đông. Tuy được kết hợp bởi các lọai hình kiến trúc Âu Á khác nhau như thế nhưng Đền Thánh vẫn nổi bật nét văn hóa Việt với Tứ Linh: Long, Lân, Quy, Phụng và hình ảnh hoa sen. Khi du khách đến viếng Đền Thánh, ấn tượng đẹp đầu tiên đến với họ là khung cảnh hài hòa giữa kiến trúc xây dựng với thiên nhiên xung quanh. Công trình kiến trúc này vừa mang dấu ấn Dịch lý và triết lý tôn giáo ẩn chứa bên trong, vừa có vẻ đẹp hài hòa, kết cấu bền vững. Đền Thánh Tây Ninh thực sự là một kỳ quan, một di sản văn hóa của nhân loại.
Sử Đạo ghi nhận các sự kiện về nguồn gốc thành lập Toà Thánh như sau:
7-10-1926, Quý vị khai sáng Đạo gửi Tuyên ngôn Khai Đạo đến Thống đốc Nam Kỳ Le Fol thông báo mở Đạo Cao Đài.
19-11-1926 (Rằm tháng 10 Bính Dần), Quý vị tiền khai mượn Chùa Gò Kén (Từ Lâm Tự) tỉnh Tây Ninh, do Hoà Thượng Như Nhãn trụ trì, tổ chức đại lễ “Khai Minh Đại Đạo” trọng thể, kéo dài suốt mấy ngày với hàng vạn tín đồ.
Mấy tháng sau, chùa bị đòi lại nên Đức Lý Giáo Tông dạy quý ông Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Nguyễn Ngọc Thơ, Nguyễn Ngọc Tương và Lê Bá Trang đi tìm đất để cất. Chọn mua được 100 mẫu rừng cấm. Về phong thủy, khu rừng này có địa thế rất tốt vì sâu dưới lòng đất có 6 mạch nước tụ lại gọi là Lục Long phò ấn.
Từ tháng Giêng năm Đinh Mão (1927),  Đức Chí Tôn và Đức Lý Giáo Tông đã dạy tất cả chi tiết, kích thước trong họa đồ, nhưng vì tín đồ còn ít và quá nghèo nên một Tòa Thánh tạm được cất lên đơn sơ.
1931 đào móng, làm nền, đào hầm Bát Quái Đài. Ngài Thái Thơ Thanh trông coi.
1933 Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt và Nữ Đầu Sư Hương Thanh tiếp nối công trình được thời gian ngắn rồi ngưng lại.
13-10 Giáp Tuất (1934), Đức Quyền Giáo Tông mất.
1935 cất lầu Hiệp Thiên Đài, đúc cột, đổ tấm trần. Ngài Tiếp Thế Lê Thế Vĩnh trông coi.
Sau khi Đức Quyền Giáo Tông đã đăng tiên, Đức Hộ Pháp được giao nắm quyền chưởng quản cả hai Hội Thánh Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài và lập kế hoạch xây cất thành công Tòa Thánh.
Ngài huy động được 500 người làm công quả. Tất cả đều lập nguyện trường chay và không lập gia đình để có đủ tinh khiết trong thời gian công quả xây dựng Đền Thánh. Tiến hành liên tục trong suốt bốn năm rưỡi thì chánh quyền Pháp khủng bố, bắt Đức Hộ Pháp đày đi Madagascar ở Phi Châu.
Đến 30-8-1946, Đức Hộ Pháp mới được trở về. Ngài huy động số người làm công quả trở lại tiếp tục công trình.
27-1-1947, Đức Hộ Pháp làm Lễ Trấn Thần Tòa Thánh
29-1-1947 (8-1-  Đinh Hợi), tổ chức Lễ An vị Quả Càn Khôn
1-2-1955 (9-1-Ất Mùi), nhân ngày Vía Đức Chí Tôn, Đại lễ khánh thành Toà Thánh được tổ chức vô cùng trọng thể.
MÔ TẢ VÀ Ý NGHĨA CẤU TRÚC BÊN TRONG TÒA THÁNH
Nhìn tổng thể Toà Thánh Cao Đài Tây Ninh, người ta thấy Tòa Thánh mang hình tượng Long Mã bái sư. Long Mã là con vật linh huyền thoại mang Hà đồ trên mình, gợi ý cho vua Phục Hy vẽ nên Bát Quái Tiên Thiên.
 Đầu Long Mã là mặt tiền nhìn thẳng về phía Tây. Hai lầu chuông và trống vươn lên như hai sừng nhọn. Nằm giữa hai lầu chuông trống là toà nhà lầu với tầng trệt (TỊNH TÂM ĐÀI) như miệng Long Mã hả ra.
 Tầng hai (PHI TƯỞNG ĐÀI) như cái trán với 2 cửa được coi như hai con mắt. Giữa là mắt Huệ (Thiên Nhãn). Trên cao có tượng Đức Di Lặc ngồi trên lưng cọp và tòa sen.
 Đuôi Long Mã là Bát Quái Đài hướng thẳng phía Đông
Thân Long Mã là phần ở giữa Đền (CỬU TRÙNG ĐÀI) chia thành 9 gian cao dần từ phía trước ra sau, nối liền Hiệp Thiên Đài với Bát Quái Đài.
    Tổng thể Đền Thánh rất nguy nga tráng lệ, chiều dài 97,5 mét, và chiều ngang 22 mét. Mặt tiền day về hướng Tây. Bên trái là Lầu chuông được gọi là Bạch Ngọc Chung Đài, bên phải là Lầu trống có tên là Lôi Âm Cổ Đài. Cả hai lầu đều cao 27 mét, có 6 tầng với chiều cao khác nhau, có mái ngắn phân chia các tầng.
Tầng trệt (tầng một) của hai tháp có hai khuôn bông lớn hình chữ nhật, ở giữa có hai chữ Nho : CAO bên lầu trống và ĐÀI bên lầu chuông. Bên trên khuôn bông này là 4 ô hình tròn có gắn chữ Nho : BẠCH NGỌC CHUNG ĐÀI và LÔI ÂM CỔ ĐÀI.
Tầng hai của lầu chuông có đắp tượng Đức Quyền Giáo Tông mặc Đạo phục đứng trên quả địa cầu, tay mặt cầm quyền Thiên Thơ. Tầng hai của lầu trống đắp tượng Bà Nữ Đầu Sư Hương Thanh mặc đạo phục đứng trên quả địa cầu, tay phải cầm nhánh bông, tay trái xách giỏ hoa. Đây là hai vị chức sắc lớn có kỳ công khai mở Đạo và xây dựng Đền Thánh.
Tầng ba có chiều cao nhỏ hơn, có gắn hai bông gió để thông hơi.
Tầng bốn có chiều cao lớn nhất để bên trong đặt một cái trống lớn gọi là Lôi Âm Cổ  bên lầu trống và một cái chuông lớn gọi là Bạch Ngọc Chung bên lầu chuông.
Trên đỉnh lầu chuông, dưới ngọn thu lôi có tạc tượng cái hồ lô. Đó là bửu pháp của Đại Tiên Lý Thiết Quả, tiền kiếp của Đức Quyền Giáo Tông.
Trên đỉnh lầu trống có tạc hình giỏ hoa lam là bửu pháp của Long Nữ (thị giả của Đức Quan Thế Âm). Vị nầy vốn là ngươn linh của bà Đầu Sư Lâm Hương Thanh.
Ngay cửa chính, phía trước có đúc 4 cột trụ, mỗi bên có hai cột song song, một đắp hình rồng đỏ (LONG), một đắp hình hoa sen (HOA), chạm trổ rất tinh vi, màu sắc rực rỡ, tượng trưng cho hai chữ  Long Hoa.
Đại hội Long Hoa là một cuộc thi tuyển sau một Chuyển học hỏi và tiến hóa của nhân loại. Đại hội do Đức Di Lặc làm chưởng quản. Những người được chấm đậu trong kỳ thi công đức thăng phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật. Những người có công đức chưa đủ sẽ sống sót trở thành giống dân mới lập đời Thượng Nguơn Thánh Đức. Còn những người không đậu phải chờ đợi lớp thú cầm tiến hóa lên làm người mới nhập vào cùng chung sống, bắt đầu một chu trình tiến hóa mới. Sự chờ đợi ấy có thể kéo dài  cả triệu năm. Trước ngày khai Đại hội Long Hoa sẽ có cuộc phán xét cuối cùng. Sau cuộc biến động dữ dội đó, Địa cầu trở lại yên tĩnh.
Để vào Đền Thánh, người ta phải bước qua năm bậc thềm. Năm bậc  tượng trưng cho Ngũ Chi Đại Đạo và năm bước tiến hóa của nhân loại: Người, Thần, Thánh, Tiên, Phật. Sau khi bước qua, ngước mắt nhìn ngay giữa ta thấy Cân Công Bình, cân tội phước từng con người, từng quốc gia...
Nhìn sang bên phải là tượng ông Thiện, mình mặc giáp, đầu đội kim khôi, tay cầm đại đao nhưng gương mặt hiền từ, tượng trưng cho điều thiện (chánh tâm). Bên trái là tượng ông Ác, cũng mặc khôi giáp, nhưng gương mặt dữ dằn, một tay cầm búa, một tay cầm Ngọc ấn tỷ phù, tượng trưng cho điều Ác (vọng tâm).
Phía trên 4 cột rồng có một bao lơn xây hình bán nguyệt, đó là Lao Động Đài, đắp hình tượng 8 nghề trong xã hội: Sĩ, Nông, Công, Thương, Ngư, Tiều, Canh, Mục với ý nghĩa: dù ở đâu, làm nghề gì, sau khi mất linh hồn cũng về Toà Thánh để được định tội phước
Lá cờ Đạo được treo ngay giữa. Cờ Đạo Cao Đài có ba màu: vàng ở trên, xanh ở giữa, đỏ ở cuối:
Phần màu vàng có thêu sáu chữ bằng Hán tự:
 ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ
Phần màu xanh thêu hình Thiên Nhãn và Cổ Pháp Tam Giáo (sách Xuân Thu, cây PChính giữa hai lầu chuông trống là tượng Thiên Nhãn, tượng trưng Đấng Thượng Đế toàn năng, hằng hửu. Hai bên Thiên Nhãn có đắp 2 câu đối chữ Hán.
HIỆP NHẬP CAO ĐÀI BÁ TÁNH THẬP PHƯƠNG QUI CHÁNH QUẢ.
THIÊN KHAI HUỲNH ĐẠO NGŨ CHI TAM GIÁO HỘI LONG HOA.
Ý nghĩa:
Hiệp vào Cao Đài, trăm họ mười phương sùng Chánh giáo.
Trời khai Đạo lớn, năm nhánh ba giáo hội Long Hoa.
Trên hai câu đối này có hai chữ nho, bên phải là chữ Nhân, bên trái là chữ Nghĩa. Đó là một trong những triết lý của Đạo Cao Đài phát huy:
NHƠN BỐ TỨ PHƯƠNG ĐẠI ĐAO DĨ NHƠN HƯNG XÃ TẮC.
NGHĨA BAN VẠN ĐẠI TAM KỲ TRỌNG NGHĨA CHẤN SƠN HÀ
Ý nghĩa:Lòng nhơn đem rải khắp bốn phương, đạo Cao đài lấy lòng nhơn làm hưng thịnh nước nhà.
Điều nghĩa ban cho muôn đời, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ xem trọng điều nghĩa để làm rạng danh nước nhà.
Trên hai chữ Nhân Nghĩa có một hàng chữ Hán và một hàng chữ Việt đều viết : Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Phía trên, ngay giữa hàng chữ này có Cổ Pháp Tam giáo là Bình Bát Vu (Phật), Phất chủ (Tiên) và quyển Xuân Thu (Thánh).Phía trong của tầng lầu hai  Hiệp Thiên Đài có tên Tiêu Diêu Điện.Chính nơi đây,các vị chức sắc Đại Thiên Phong xin thông công với các Đấng Thiêng Liêng bằng phương pháp Thần cơ diệu bút.
Trên nóc Tiêu Diêu Điện có tượng Phật Di Lặc (Maitreya) ngồi trên lưng cọp để kỷ niệm năm Bính Dần khai Đạo. Ngài còn có tên là Từ Thị, Đấng Từ ái. Ngài đang giáo hóa tại cung trời Đâu Suất và sẽ là vị Phật tương lai xuất hiện ở thế gian theo lời Đức Phật Thích Ca đã thọ ký. Tương truyền rằng chính một ứng thân Bồ Tát của Đức Ngài khởi xướng trường phái Duy thức tông hay Duy Tâm Tông vào đầu thế kỷ thứ tư. Tranh vẽ Đức Di Lặc của Trung Quốc thường có biểu tượng là một vị mập tròn, vui vẻ với các trẻ em xung quanh. Đó là hình ảnh của Bố Đại Hòa thượng, một hóa thân của Di Lặc ở thế kỷ thứ 10. Tranh ở vùng Bắc Ấn và Tây Tạng thường vẽ Ngài với tay bắt ấn chuyển pháp luân, có nghĩa rằng khi xuất hiện trên thế gian, Ngài sẽ quay bánh xe Pháp một lần nữa để cứu độ tất cả chúng sinh. Mặt khác, theo Thánh giáo, Đức Chí Tôn lập Đạo và đưa nhơn loại đến Hội Long Hoa do chính Đức Di Lặc  làm Chánh chủ khảo tuyển chọn và truyền giảng Lý HÒA ĐỒNG – BÁC ÁI  tạo đời Thượng ngươn Thánh đức.hất Chủ, bình Bát Vu)
Bước lên năm bậc thềm là ta đã bước vào TỊNH TÂM ĐIỆN, nơi để chức sắc và tín đồ ngồi tịnh tâm và định thần giữ lòng thanh tịnh trước khi vào chầu Lễ. Trước mặt ta là tượng Tam Thánh. Tam Thánh là ba vị Thánh ở Bạch Vân Động nơi cõi Thiêng liêng.
Đó là : Đức Thanh Sơn Chơn nhơn mà trong kiếp giáng trần ở Việt Nam có tên Nguyễn Bỉnh Khiêm (Trạng Trình). Ngài cầm bút lông viết tám chữ Nho :
THIÊN THƯỢNG, THIÊN HẠ
BÁC ÁI, CÔNG BÌNH
Đức Nguyệt Tâm Chơn Nhơn mà trong kiếp giáng trần ở nước Pháp là Đại văn hào Victor Hugo
Đức Trung Sơn Chơn nhơn mà trong kiếp giáng trần ở Trung Hoa, Ngài là nhà cách mạng có tên là Tôn Văn, Tôn Dật Tiên (Sun Yat Sen) đã lập nên nền dân chủ. Ngài cầm nghiên mực tỏa hào quang, tượng trưng dung hòa văn hóa Đông Tây đặt trên nền tảng triết lý tối cổ của Nho giáo.
Ba vị Thánh này thay mặt nhơn loại ký bản  hoà ước giữa Trời và Người gọi là Thiên Nhơn hòa ước. Hòa ước này rất đơn giản, chỉ có bốn chữ :
BÁC ÁI – CÔNG BÌNH
THƯƠNG YÊU và CÔNG CHÁNH
Là hai điều Thượng đế yêu cầu con người thực hiện để được cứu rỗi. Nếu con người không thực hiện mà làm ngược lại thì sẽ bị đọa, không còn kêu nài gì được nữa. Muốn được bốn chữ đó phải tìm cách phụng sự nhơn sanh, giúp đời bớt khổ. Hòa ước này được ký kể từ ngày Đức Thượng Đế mở Đạo Cao Đài để Đại Ân xá cho nhơn loại.
Từ Tịnh Tâm Điện có đường lên lầu Hiệp Thiên Đài, nơi đặt bàn thờ Chức sắc Hiệp Thiên Đài đã qui liễu. Trước bàn thờ là nơi ban nhạc lễ đàn khi cúng. Từ Hiệp Thiên Đài có hai đường lên lầu chuông, lầu trống. Mỗi tầng bên trên có một cửa sổ lớn nên tiếng chuông. trống khi đánh lên vang vọng trên không trung.
Cửu Trùng Đài :
 Có chín bậc, mỗi bậc dài 7m, bậc trên cao hơn bậc dưới 18cm. Mỗi bậc ngăn cách nhau bằng hai cột rồng xanh. Tổng cộng có 18 cột đứng thành hai hàng song song.
Cửu Trùng Đài có 9 bậc tương ứng với hệ thống 9 bậc giáo phẩm như sau: Từ thấp lên cao có: Tín đồ (Đạo hữu), Chức Việc Bàn Trị Sự, Lễ Sanh, Giáo Hữu, Giáo Sư, Phối Sư, Đầu Sư, Chưởng Pháp và Giáo Tông.
Trên vòm trần nhà tượng trưng bầu trời có màu xanh biếc với những đám mây trắng cùng hàng trăm vì tinh tú. Ở giữa có chạm hình 6 con rồng (2 con màu vàng, 2 con màu xanh, 2 con màu đỏ), chung quanh sơn màu xanh da trời, lấy ý trong bài Ngọc Hoàng Kinh là : Thời thừa lục long, du hành bất tức.
Ý nghĩa: Đức Chí Tôn thường ngự trên sáu con rồng,theo thời vận tuần du khắp vũ trụ.Sáu rồng còn là quẻ Càn, tượng trưng Đạo Trời.Đạo biến hóa nhiệm mầu khắp nơi, không hề ngưng nghỉ.
Hàng chức sắc quỳ cúng hành lễ ở gian chính giữa. Tín đồ nam, nữ quỳ ở hai bên riêng biệt. Hai gian bên có trần nhà phẳng, khắc hình Lân, Quy, Phụng. Các con thú này hợp với Rồng ở hàng cột được gọi là Tứ Linh.
Từ Bát Quái Đài đếm trở xuống thì cấp thứ sáu dành cho Giáo Hữu.Ở cấp này, mỗi bên nam nữ  có một Giảng Đài ,cấu trúc là một cột có rồng uốn khúc với miệng phun ra 6 chia chống đỡ Giảng Đài.Giáo Hữu là cấp đã chế ngự được lục trần ( Sắc, thanh, hương , vị, xúc, pháp) và thông suốt giáo lý để làm nhiệm vụ phổ tế.
Bát Quái Đài :Bát quái là tám quẻ đơn tượng trưng cho muôn vật, là hệ thống ký hiệu đơn giản cho mọi hiện tượng trong vũ trụ, thiên nhiên và đời sống con người, mà sáu mươibốn (8x8) quẻ kép là sự triển khai bát quái lập thành hệ thống chi tiết hơn.
Lập Bát Quái Đài để thờ Thượng Đế là thờ Đấng Tạo hoá đã tạo lập ra càn khôn vũ trụ.
Bát Quái Đài có 12 bậc, mỗi bậc cao 10cm với 8 cạnh, dưới to trên nhỏ theo hình tháp. Mười hai bậc tượng trưng cho 12 tầng Trời. Theo giáo lý Đạo Cao Đài thì Thượng Đế là ĐấngThập nhị Khai Thiên (số 12 là số riêng của Trời). Bậc đầu tiên cao hơn mặt đất 2.4m và bậc trên cùng cao hơn mặt đất là 3.6m (bội số của 12).
Quả Càn Khôn: có bề kính tâm 3.3m, màu xanh da trời, cẩn 3072 ngôi sao (tinh tú) tượng trưng cho Tam Thiên thế giới và Thất Thập Nhị Địa, trong đó địa cầu mà con người đang ở là địa cầu thứ 68. Trên chòm sao Bắc Đẩu vẽ Thiên Nhãn. Ngọn đèn đặt tại tâm quả địa cầu tượng trưng ngôi Thái Cực của Đức Chí Tôn.
Ý NGHĨA VIỆC THỜ THIÊN NHÃN:
Có thể tạm giải thích theo những ý sau :
 Thờ Thiên Nhãn là thờ cái Tâm của con người. Tâm đây là lương tâm, chơn tâm, thiên tâm có sẵn trong chúng ta và giúp ta phân biệt phải trái, biết nhơn nghĩa đạo đức. Tâm Thánh nhân giữ không để vật dục chi phối. Tâm được trau giồi trong sáng sẽ có trực giác, giao tiếp được với cõi Thiêng Liêng vì Trời, Người đồng một Lý.
 Thờ Thiên Nhãn còn có ý nghĩa thờ khối Đại Linh Quang mà con người là một Tiểu Linh quang. Chơn linh hay thường được gọi là Linh hồn chính là khối ánh sáng bé nhỏ được chiết ra từ khối ánh sáng vĩ đại của Thượng Đế. Đức Chí Tôn đã giải thích ý nghĩa việc thờ Thiên Nhãn như sau:
Nhãn thị chủ tâm.
Lưỡng quang chủ tể
Quang thị Thần.
Thần thị Thiên
Thiên giả ngã giả
Ý nghĩa: Con mắt làm chủ cái Tâm. Hai ánh sáng trong mắt là phần chủ tể. Ánh sáng ấy là Thần. Thần ấy là Trời. Trời là Ta vậy.
  Việc thờ Thiên Nhãn còn có ý nghĩa trong việc luyện Đạo vì Thần có hiệp cùng Tinh, Khí thì mới có thể siêu phàm nhập Thánh. Người tu đoạt Pháp sẽ có thêm con mắt thứ ba gọi là Huệ Nhãn, thấy được cõi vô hình. Mở Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn đã hứa sẽ ‘‘hườn nguyên chơn thần các con đắc đạo’’
  Thờ Thiên Nhãn với con mắt mở tượng trưng Trời thấy và hiểu tất cả những gì con người làm và nghĩ. Vẽ con mắt trái vì bên trái thuộc Dương. Trời Dương, Đất Âm. Con mắt trái là hình thể hữu vi. Thiên Nhãn là cái lý màu nhiệm huyền bí thuộc lãnh vực siêu hình, biểu tượng sự sáng suốt tột cùng bao trùm cả Càn khôn vạn loại.
Đạo Cao Đài có tôn chỉ qui Tam Giáo, hiệp Ngũ chi nên việc thờ Thiên Nhãn có tính đại đồng và chỉ thờ một con mắt vì số một là số khởi thủy của các số: Đạo sanh nhất, nhất sanh nhị, nhị sanh tam, tam sinh vạn vật. Thế nên, thần học Cao Đài là “nhất nguyên luận”.
Sau khi tham quan tìm hiểu một Đạo giáo khá nổi tiếng của Việt Nam. Du khách  lên xe và di chuyển đến nhà hàng khách sạn Hòa Bình dùng cơm trưa. Sau khi xuống núi vật vã và tham quan Tòa Thánh xong thì tôi cảm thấy mệt và đói, du khách dùng buổi trưa ngay sau đó và nghỉ ngơi. Đúng 13h20 chúng tôi rời nhà hàng lên xe để đến Địa Đạo Củ Chi. Xe chúng tôi chạy ra hướng đường Tôn Đức Thắng và đi dọc theo quốc lộ 22B ngược ra ngã ba Gò Dầu.Sau đó quẹo trái chạy dọc theo quốc lộ 22A  đến ngã tư Trảng Bàng đi theo tỉnh lộ 19 Nguyễn Văn Rốp qua ngã tư Hai Châu đến tỉnh lộ 787 .Khi xe chúng tôivừa chạy ngang qua cầu kênh Đông ,rẽ trái ở tỉnh lộ 6 và đến với địa đạo Củ Chi. Đến đây chúng tôi đợi thầy làm thủ tục và sau đó chúng tôi vào khuôn viên địa đạo để xuống một căn nhà được đào sâu xuống khoảng 2,5m để xem băng hình và nghe một nữ hướng dẫn riêng của địa đạo nói về những ngày đấu tranh cũng như những ngày đầu địa đạo thật gian khổ.
Địa Đạo Củ Chi là khu di tích lịch sử hào hùng của dân tộc với giá vé vào cổng tham quan là 20.000 nghìn 1 người và 40.000 nghìn1 người cho vé tham quan địa đạo và khu tái hiện chiến trường xưa.
Sau khi vào cổng hướng dẫn viên đưa du khách theo một cán bộ để hướng dẫn du khách tham quan và thuyết minh tìm hiểu về cuộc sống của nhân dân ta thời chiến đấu và  xuống tầng hầm. Địa đạo gồm có 3 tầng : tầng thứ nhất sâu khoảng 2 -3m, tầng thứ hai sâu khoảng 4-5m và tầng thứ ba sâu khoảng 7 – 8m.
3.   Địa Đạo Củ Chi
ĐỊA ĐẠO CỦ CHI – MỘT KỲ TÍCH ANH HÙNG
Nằm cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 70 km về hướng Tây Bắc, Địa đạo Củ Chi là nơi thu nhỏ trận đồ biến hóa và sáng tạo của quân và dân Củ Chi trong cuộc kháng chiến lâu dài, ác liệt suốt 30 năm chống kẻ thù xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc.
Với tầm vóc chiến công của mình, địa đạo Củ Chi đã đi vào lịch sử đấu tranh anh hùng của nhân dân Việt Nam như một huyền thoại của thế kỷ 20 và trở thành một địa danh nổi tiếng trên thế giới. Đây là một kỳ quan đánh giặc độc đáo có một không hai với khoảng 250 km đường hầm tỏa rộng như mạng nhện trong lòng đất, có các công trình liên hoàn với địa đạo như: Chiến hào, ụ, ổ chiến đấu, hầm ăn,ngủ, hội họp, sinh hoạt, quân y, kho cất dấu lương thực, giếng nước, bếp Hoàng Cầm …
Những sự tích có thật từ địa đạo đã vượt quá sức tưởng tượng của con người. Chỉ cần chui xuống một đoạn đường hầm, bạn sẽ hiểu vì sao nước Việt Nam nhỏ bé lại chiến thắng kẻ thù là một nước lớn và giàu có bậc nhất thế giới. Vì sao Củ Chi, mảnh đất nghèo khó lại đương đầu ròng rã suốt 21 năm với một đạo quân đông hơn gấp bội, thiện chiến, được trang bị vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại, tối tân. Trong cuộc đọ sức này, quân và dân Củ Chi đã chiến thắng oanh liệt.
Dựa vào hệ thống đường ngầm, công sự, chiến hào, chiến sĩ và nhân dân Củ Chi đã chiến đấu vô cùng anh dũng, lập nên những chiến công thần kỳ. Quân đội Mỹ lần đầu vào đất Củ Chi gặp phải sự kháng cự quyết liệt từ các địa đạo trong vùng căn cứ hiểm yếu, đã phải thốt lên: “Làng ngầm”, “Mật khu nguy hiểm”…
Củ Chi là một huyện ngoại thanh cách giáp huyện Bến Cát Tỉnh Bình Dương. Tây Bắc giáp huyện Trảng Bàng Tây Ninh. Hướng tây nam giáp huyện Đức Hoà Long An.Khi xuống hầm Địa Đạo trong đó chỉ dành cho một người đi khom lưng hoặc bò. Cũng có nhiều đoạn rộng hơn với những phòng dành cho sinh hoạt trong trường hợp phải chống cự với địch trong thời gian lâu, trạm xá, nơi ở phòng sinh hoạt vănnghệ, mỗi đường hầm có lỗ thông hơi, ống thoát nước, nắp đậy ngăn khí độc …. Khi cần có giếng nước của địa đạo 2,3 ổ sâu hơn, trong lòng đất có giếng nước của địa đạo sâu 15m để phục vụ ăn uống. Hầm có 1 cấu trúc hình thành chử A có tác dụng chống sụp khi bom pháo nổ gần và hầm nghỉ ngơi khi chưa chiến đấu. Hầm được nối liền với bếp nấu giấu khói hay còn gọi là bếp hoàng cầm.  Hoàng Cầm là người sáng tạo ra bếp này trong chiến dịch Điện Biên Phủ 1954. Đặc biệt của bếp này khi nấu ở đây, ta cho khói vào các trụ chứa khói và khi lên đến mặt đất chỉ còn là hơi nước là đà như sương mỏng, máy bay và người không phát hiện. Và có một câu nói rất nổi tiếng của người dân thuở xưa sống ở đây:” Đi không dấu, nấu không khói, nói không to, ho không tiếng, giếng không mòn.”Hầm hội và làm việc, hầm dự trữ lương thực và vũ khí để sử dụng lâu dài. Ấp chiến đấu thì được liên quan với hào tiên mặt đất ấp chiến hào các phương. Một khi phát hiện đối phương đến gần 20m thì ta mới nổ súng. Ấp chiến đấu nàychỉ bố trí 3-5 người. Nhưng có thể tiêu diệt được hàng trăm đối phương trong mộttrận càn và các công trình đường quanh đây bao giờ cũng gắn liền với hệ thống địađạo. Tại địa đạo có các lỗ thông hơi do địa  hình có nhiều  mối nên lỗ thông hơi được ngụy trang giống như ổ mối. Quân Mỹ dùng chó Bacgiê để đánh hơi, nếu chúng tôi phát hiện sẽ bơm nước và chất độc để diệt quân ta, nhưng ta còn nhiều cách để lừa đàn chó, dùng các chất gia vị cay như ớt, tiêu, quanh lỗ thông hơi dùng các quân trang quân dụng của Mỹ như quần áo, xà phòng thuốc là … cắt nhuyễn rađỗ quanh lỗ thông hơi làm đàn chó không phát hiện ra cứ 15-20m có một lỗ thônghơi.Khi xuống tầng thứ nhất chúng tôi phải khom lưng, mọi thứ tối om vì dưới địa đạo cách một khoảng xa mới có một bóng đèn rất nhỏ, đến đây thì đèn pin hay đèn flash điện thoại mang theo đã phát huy được tác dụng của nó. Các bạn nối đuôi nhau lần lượt bước lên khỏi địa đạo. Sau khi lên khỏi địa đạo bạn nào cũng ướt đẫm mồ hôi và tôi cũng không ngoại lệ, tôi cảm thấy mình rất mệt nhưng tôi vẫn quyết định đi vàođịa đạo kế tiếp. Địa Đạo này sâu hơn địa đạo trước nên cán bộ khuyên bạn nào có bệnh về tim mạch thì không nên xuống. Cũng như tần thứ nhất tần thứ hai cũng tốiom và có rất nhiều mùi hôi thoát ra từ lòng đất. Khi xuống dòng địa đạo tôi nghe có nhiều bạn thét và kêu réo nhau.
Sau khi lên khỏi lòng địa đạo có bạn ra mồ hôi như vừa được tấm, quần áo trở nên rất bẩn vì dính rất nhiều đất từ lòng địa đạo. Chỉ có đi xuống lòng địa đạo thì mới biết được những vất vả của bột đội tavà hiểu vì sao quân Mỹ không thểnào vào lòng địa đạo vì lòng địa đạo chỉ vừa cho người việt nam đi ở trạng thái khom. Sau khi rời khỏi lòng địa đạo đoàn chúng tôi tiếp tục rơi vào một nhà nơi mà chúng tôi được thưởng thức món khoai mì đặc biệt của địa đạo, khoai mì chấmmuối mè.
Sau khi tham quan xong hướng dẫn đưa du khách di chuyển đến Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược. Đền Bến Dược cũng là điểm tham quan cuối cùng của chương trình tour ngày hôm nay.
Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược
Đền tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược, Củ Chi là một công trình tập hợp những đóng góp vật chất và trí tuệ của đồng bào, của lãnh đạo Thành ủy, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và các bậc lão thành, trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân mỗi người đóng góp bằng sự nhiệt tình của trái tim cháy bỏng, của đạo lý và trí tuệ trong sáng nhất để làm nên một quần thể kiến trúc đậm đà bản sắc dân tộc.
Đền được xây dựng trên một vùng đất 7ha, khởi công vào ngày 19/5/1993 nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ 103 của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc, người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngày 19/12/1995, Đền tưởng niệm khánh thành giai đoạn I và bắt đầu đón lớp lớp những đoàn người trong nước và nước ngoài đến tưởng niệm, dâng hương và trầm ngâm về một lẽ sống còn đã làm nên hồn thiêng dân tộc.
Đền tưởng niệm được những nhà kiến trúc, những nhà xây dựng và những người tâm huyết tạo thành một quần thể kiến trúc hài hòa, thoáng đãng mang bản sắc văn hóa Việt một cách tinh tế, dịu dàng như tâm hồn dân tộc Việt. Đền Tưởng niệm liệt sĩ Bến Dược gồm có các hạng mục:
Cổng tam quan được kiến trúc theo phong cách cổ truyền của dân tộc với các hàng cột tròn, trên lợp ngói âm dương. Cổng có hoa văn, họa tiết, mái cong của những cổng đình làng nhưng được cách tân bởi những vật liệu mới. Chính giữa cổng tam quan là biển đề “Đền Bến Dược” và trên các thân cột là những câu đối của nhà thơ Bảo Định Giang:
“Trải tấm lòng son vì đất nước
Đem dòng máu đỏ giữ quê hương”.
“Lòng biết công ơn nhang thơm một nén,
Đời còn bóng dáng sao sáng ngàn năm”.
Nhà văn bia là một nhà vuông có hai mái, lợp ngói, ở giữa đặt một tấm bia đá cao 3m, ngang 1,7m, dày 0,25m, nặng 3,7 tấn đặt giữa nhà văn bia, bài văn “ Đời đời ghi nhớ” được bày trí tôn nghiêm, chính giữa là tượng Chủ Tịch Hồ Chí Minh, ba mặt xung quanh khắc tên các anh hùng liệt sĩ trên đá hoa cương có tên 41447 liệt sĩ, tầng dưới trưng bày những hiện vật hình ảnh mô hình với chủ đề “ Củ chi đất thép thần đồng”. Ngày 19/12 hàng nămlà ngày tưởng niệm và tri ân các anh hùng liệt sĩ tại đền bến dược. Tấm bia đá này được lấy từ khối đá nặng 18 tấn ở Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng và được các nghệ nhân đẽo gọt, chạm khắc những hoa văn độc đáo của dân tộc.